TCVN 7161-1:2002 ISO 14520-1:2000 HỆ THỐNG CHỮA CHÁY BẰNG KHÍ – TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG


Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng:

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 7161-1:2002
ISO 14520-1:2000

HỆ THỐNG CHỮA CHÁY BẰNG KHÍ – TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG

Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design

Phần 1: Yêu cầu chung

Part 1: General requirements

LI NÓI ĐẦU

TCVN 7161-1:2002 hoàn toàn tương đương với ISO 14520-1:2000

TCVN 7161-1:2002 do Ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn TCVN/TC21 thiết bị phòng cháy chữa cháy biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.

HƯNG DẪN

Hệ thống chữa cháy theo tiêu chuẩn này được thiết kế nhằm tạo ra môi trường chữa cháy thể khí để dập tắt đám cháy. Một số phương pháp cung cấp chất chữa cháy khác nhau và phun chất chữa cháy vào điểm yêu cầu để dập tắt đám cháy được triển khai trong những năm gần đây, nên cần phải phổ biến thông tin về các hệ thống và phương pháp chữa cháy này. Tiêu chuẩn này được soạn thảo nhằm đáp ứng yêu cầu trên.

Đặc biệt, tiêu chuẩn còn quy định các yêu cầu mới về phòng tránh thải ra các chất chữa cháy trong quy trình thử và phương pháp thực hiện. Các yêu cầu này bao gồm trong thử nghiệm tính nguyên vẹn. Các yêu cầu của tiêu chuẩn được biên soạn trên cơ sở các dữ liệu kỹ thuật tốt nhất mà nhóm công tác có tại thời điểm soạn thảo, nhưng vì phạm vi tiêu chuẩn quá rộng nên không thể xem xét hết được các yếu tố hoặc trường hợp có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện các yêu cầu trên.

Trong quá trình soạn thảo tiêu chuẩn này, việc xây dựng các điều khoản của tiêu chuẩn được giao cho những người đủ trình độ và kinh nghiệm về đặc tính kỹ thuật, thiết kế, lắp đặt, thử nghiệm phê duyệt, kiểm tra, vận hành và bảo dưỡng các hệ thống chữa cháy bằng khí và các thiết bị, và họ có thể thực hiện được các nhiệm vụ là tránh phải phun chất chữa cháy một cách không cần thiết.

Cần chú ý đến Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn.

Điều quan trọng là ivệc phòng cháy cho một tòa nhà hoặc nhà máy, xưởng máy cần được xem như một công việc tổng thể. Hệ thống chữa cháy bằng khí chỉ là một bộ phận, mặc dù là một bộ phận quan trọng của các phương tiện hiện có, nhưng cũng không nên loại bỏ các biện pháp khác như trang bị các thiết bị chữa cháy xách tay hoặc các thiết bị chữa cháy di động khác sử dụng cho sự trợ giúp ban đầu hoặc sử dụng trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết sự cố đặc biệt.

Từ nhiều năm nay, các chất chữa cháy thể khí đã được công nhận là một loại chất chữa cháy dập tắt có hiệu quả đối với các đám cháy chất lỏng dễ cháy và các đám cháy do điện và các sự cố cháy thông thường thuộc đám cháy loại A, nhưng cũng không nên quên rằng, khi vạch ra phương án phòng cháy toàn diện có thể có các đám cháy không thích hợp với loại chất chữa cháy bằng khí hoặc trong một số trường hợp hoặc tình huống có thể có nguy hiểm khi sử dụng loại chất chữa cháy này và cần có sự đề phòng đặc biệt.

Nhà sản xuất chất chữa cháy hoặc hệ thống chữa cháy có thể đưa ra lời khuyên về các vấn đề trên. Cũng có thể nhận được thông tin từ cơ quan phòng cháy, chữa cháy, cơ quan an toàn và bảo vệ sức khỏe và các công ty bảo hiểm. Ngoài ra, khi cần thiết có thể tìm tài liệu tham khảo trong các tiêu chuẩn Nhà nước và các quy định pháp luật khác.

Thiết bị chữa cháy cần được bảo trì cẩn thận để đảm bảo sẵn sàng ở mọi lúc khi cần. Sự bảo dưỡng hàng ngày của chủ nhân hệ thống chữa cháy bằng khí là xem xét hoặc chăm sóc các thiết bị.

Tuy nhiên, không cần thiết phải nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của việc bảo dưỡng hệ thống chữa cháy bằng khí.

  1. PHẠM VI ÁP DỤNG

Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu và đưa ra các kiến nghị về thiết kế, lắp đặt, thử nghiệm, bảo dưỡng và an toàn của các hệ thống chữa cháy bằng khí trong các tòa nhà, nhà máy hoặc các công trình kiến trúc khác và các đặc tính của các chất chữa cháy và các loại đám cháy khác nhau, thích hợp với các chất chữa cháy này.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho các hệ thống chữa cháy theo thể tích ứng dụng cho các tòa nhà, nhà máy và các ứng dụng đặc biệt khác, chất khí chữa cháy không dẫn điện, không để lại cặn sau khi phun và có đủ số liệu thông dụng để có thể đánh giá được đặc tính kỹ thuật của nó do một cơ quan độc lập thích hợp tiến hành. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho hệ thống phòng nổ.

Tiêu chuẩn này không đưa ra để công nhận hoặc phê duyệt các chất chữa cháy đã được liệt kê bởi cơ quan có thẩm quyền, bởi vì còn có các chất chữa cháy khác cũng có thể được phê duyệt. Tiêu chuẩn này không quy định cho CO2 vì đã được đề cập trong các tiêu chuẩn khác.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho các chữa cháy được liệt kê trong Bảng 1. Tiêu chuẩn được sử dụng cùng với các phần của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) cho các chất chữa cháy riêng như đã liệt kê trong Bảng 1.

Bảng 1: Các chất chữa cháy

Chất chữa cháy Tên hóa học Công thức Tên thương mại Số hiệu tiêu chuẩn
CF3I Trifloiodua metan CF3I Triodit ISO 14520-2
FC-2-1-8 Peflopropan CF3CF2CF3 CEA 308 ISO 14520-3
FC-3-1-10 Peflobutan C4H10 CEA 410 ISO 14520-4
HCFC Blend A NAFS-III ISO 14520-6
HCFC – 123 Diclotriflometan CHC12CF3
HCFC – 22 Clodiflometan CHClF2
HCFC – 124 Clotetrafloetan CHClFCF3
Isopropenyl – 1– metylxyclo – hexen C10H16
HCFC 124 Clotetrafloetan CHClFCF3 FE – 241 ISO 14520-7
HCFC 125 Pentafloetan CHF2CF3 FE – 25 ISO 14520-8
HFC – 227 ea Heptaflo propan CF3CHFCF3 FM – 200 TCVN 7161-9:2002 (ISO 14520-9)
HFC – 23 Triflometan CHF3 FE – 13 ISO 14520-10
HFC – 236fa Hexaflopropan CF3CH2CF3 FE – 36 ISO 14520-11
IG – 01 Argon Ar Acgotec ISO 14520-12
IG – 100 Nito N2 TCVN 7161-13:2002 (ISO 14520-13)
IG – 55 Nito (50%)

Argon (50%)

N2

Ar

Acgonit ISO 14520-14
IG – 541 Nito (52%)

Argon (40%)

Cacbon dioxit (8%)

N2

Ar

CO2

Inergen ISO 14520-15
  1. TIÊU CHUẨN TRÍCH DẪN

TCVN 4878:89 (ISO 3941) Phân loại cháy

ISO 14520-2 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 2: CF3I extinguishant. (ISO 14520-2: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 2: Chất chữa cháy CF3I)

ISO 14520-3 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 3: FC-2-1-8 extinguishant. (ISO 14520-3: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 2: Chất chữa cháy FC-2-1-8)

ISO 14520-4 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 4: FC-3-1-10 extinguishant. (ISO 14520-4: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 4: Chất chữa cháy FC-3-1-10)

ISO 14520-6 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 6: HFC Blend A extinguishant. (ISO 14520-6: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 6: Chất chữa cháy HFC Blend A)

ISO 14520-7 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 7: HFC 124 extinguishant. (ISO 14520-7: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 7: Chất chữa cháy HFC 124)

ISO 14520-8 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 8: HFC 125 extinguishant. (ISO 14520-8: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 8: Chất chữa cháy HFC 125)

TCVN 7161-9:2002 (ISO 14520-9) Hệ thống chữa cháy bằng khí – Tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 9: Chất chữa cháy HFC 227ea.

ISO 14520-10 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 10: HFC 23 extinguishant. (ISO 14520-10: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 10: Chất chữa cháy HFC 23)

ISO 14520-11 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 11: HFC 125 extinguishant. (ISO 14520-11: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 11: Chất chữa cháy HFC 236fa)

ISO 14520-12 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 12: IG – 01 extinguishant. (ISO 14520-12: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 12: Chất chữa cháy IG – 01)

TCVN 7161-13:2002 (ISO 14520-13) Hệ thống chữa cháy bằng khí – Tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 13: Chất chữa cháy IG – 100.

ISO 14520-14 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 14: IG – 55 extinguishant. (ISO 14520-14: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 14: Chất chữa cháy IG – 55)

ISO 14520-15 Gaseous fire-extinguishing systems – Physical properties and system design – Part 15: IG – 541 extinguishant. (ISO 14520-15: Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống – Phần 15: Chất chữa cháy IG – 541)

IEC 60364-7 Electrical installation of buildings – Part 7: Requirements for special installations or locations. (IEC-60364-7: Lắp đặt điện ở các tòa nhà – Phần 7: Yêu cầu đối với việc lắp đặt hoặc bố trí đặc biệt)

  1. THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA

Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

3.1. Được phê duyệt (Approved): Được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận (xem 3.2).

Chú thích: Khi xác định khả năng chấp nhận sự lắp đặt hoặc phương pháp, thiết bị hoặc vật liệu, cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào sự chấp nhận phù hợp với các tiêu chuẩn thích hợp.

3.2. Cơ quan có thẩm quyền (Authority): Tổ chức, cơ quan hoặc cá nhân chịu trách nhiệm phê duyệt thiết bị, sự lắp đặt hoặc phương pháp.

3.3. Công tắc tự động/bằng tay (Automatic/Manual Switch): Phương tiện chuyển đổi hệ thống từ khởi động tự động sang khởi động bằng tay.

Chú thích: Công tắc này có thể có một công tắc điều khiển bằng tay trên bảng điều khiển hoặc các thiết bị khác hoặc là khóa liên động cửa ra vào của cá nhân. Trong một số trường hợp, cơ cấu này làm thay đổi cách khởi động của hệ thống từ khởi động tự động và bằng tay sang chỉ khởi động bằng tay hoặc ngược lại.

3.4. Chất chữa cháy (Extinghuishant): Chất khí chữa cháy không dẫn điện, không để lại cặn khi bay hơi (xem Bảng 1).

3.5. Khoảng hở (Clearance): Khoảng không khí giữa thiết bị, bao gồm cả đường ống và các vòi phun, và các bộ phận có dòng điện chạy qua không được bọc cách điện hoặc che kín ở vị trsi không ở trên mặt đất.

3.6. Nồng độ (Concentration)

3.6.1.Nồng độ thiết kế (Design Concentration): Nồng độ của chất chữa cháy, bao gồm cả hệ số an toàn dùng để thiết kế hệ thống.

3.6.2.Nồng độ lớn nhất (Maximum Concentration): Nồng độ đạt được từ lượng chất chữa cháy cần để dập tắt đám cháy do nhiên liệu riêng trong điều kiện thực nghiệm xác định, bao gồm cả hệ số an toàn nào đó.

3.7. Hệ thống thiết kế (Engineered System): Hệ thống trong đó nguồn cung cấp chất chữa cháy được bảo quản tập trung được phun qua một hệ thống đường ống và vòi phun mà kích thước của mỗi đoạn ống và lỗ vòi phun đã được tính toán phù hợp với các phần tương ứng của TCVN 7161:2002 (ISO 14520).

Chú thích: Lưu lượng thiết kế của các vòi phun có thể thay đổi theo các yêu cầu thiết kế có tính đến sự cố.

3.8. Tỷ trọng nạp (Fill Density): Khối lượng của chất chữa cháy trên một đơn vị thể tích bình chứa.

3.9. Lượng chất chữa cháy (Flooding Quantity): Khối lượng thể tích chất chữa cháy cần thiết để đạt được nồng độ thiết kế trong khối tích được bảo vệ với thời gian phun quy định.

3.10. Thể tích chữa cháy (Gross Volume): Thể tích được bao bọc bởi các cấu kiện của công trình xung quanh khu vực được bảo vệ trừ đi thể tích của các cấu kiện không thẩm thấu của công trình bên trong khu vực này.

3.11. Thời gian duy trì (Hold Time): Khoảng thời gian trong đó nồng độ của chất chữa cháy được duy trì lớn hơn nồng độ dập tắt đám cháy bao quanh vùng nguy hiểm.

3.12. Kiểm tra (Inspection): Kiểm tra bằng mắt thường để đảm bảo chắc chắn hệ thống chữa cháy được nạp đầy và hoạt động được.

Chú thích: Việc kiểm tra được thực hiện bằng cách nhìn thấy hệ thống ở vị trí sẵn sàng để làm việc, hệ thống chưa đưa vào hoạt động hoặc chưa bị làm xáo trộn, không có hư hỏng rõ rệt về vật lý và tình trạng ngăn cản hoạt động của hệ thống.

3.13. Khí hóa lỏng (Liquefied Gas): Khí hoặc hỗn hợp khí (thường là halocacbon) ở thể lỏng dưới áp suất của bình chứa và ở nhiệt độ phòng (20oC).

3.14. Cơ cấu khóa (Lock-off Device): Van khóa điều khiển bằng tay được lắp trên đường ống dẫn của bình chứa chất chữa cháy; hoặc một loại cơ cấu khác thực hiện việc khóa bằng cơ khí để phòng hoạt động của bình chứa chất chữa cháy.

Chú thích:

  1. Trạng thái của cơ cấu phải được hiển thị để dễ nhận biết;
  2. Tác dụng ngăn ngừa sự phun chất chữa cháy vào khu vực nguy hiểm được thực hiện khi cơ cấu hoạt động.

3.15. Mức tác động có hại thấp nhất quan trắc được (Lowest Observered Adverse Effect Level – LOAEL): Nồng độ thấp nhất tại đó quan trắc được tác động có hại tới sinh lý hoặc tác động độc hại.

3.16. Bảo dưỡng (Maintanance): Kiểm tra xem xét cẩn thận để bảo đảm tới mức tối đa sự hoạt động như đã dự định của hệ thống chữa cháy.

Chú thích: Bảo dưỡng bao gồm sự xem xét cẩn thận, toàn diện và sửa chữa hoặc thay thế các chi tiết của hệ thống.

3.17. Áp suất làm việc lớn nhất (Maximum Working Pressure): Áp suất cân bằng trong bình chứa ở nhiệt độ làm việc lớn nhất. Chú thích:

  1. Đối với các khí hóa lỏng, áp suất này được xác định ứng với tỷ lệ nạp lớn nhất và có thể bao gồm cả sự nén tăng áp cao.
  2. Áp suất cân bằng đối với bình chứa vận chuyển dọc đường có thể khác áp suất cân bằng của bình chứa được bảo quản trong công trình.

3.18. Hệ thống mô đun (Modular System): Hệ thống bao gồm các bình chứa được phân phối để bảo quản, thường là loại hệ thống thiết kế sơ bộ, trong đó mỗi đơn vị được thiết kế để bảo vệ riêng một thể tích đã cho trong giới hạn cho phép của thể tích này là tổng các thể tích sẽ bao trùm toàn bộ vùng có nguy cơ bị cháy.

3.19. Mức tác hại không quan trắc được (No Observered Adverse Effect Level – NOAEL): Nồng độ cao nhất tại đó không quan trắc được ảnh hưởng của chất độc hại hoặc ảnh hưởng có hại tới sinh lý.

3.20. Khí không hóa lỏng (Non-liquefied Gas): Khí hoặc hỗn hợp khí (thường là khí trơ) mà ở áp suất làm việc và trong điều kiện nhiệt độ cho phép luôn luôn tồn tại ở trạng thái khí.

3.21. Vùng thường không có người (Normally Unoccupied Area): Vùng thường không có người nhưng thỉnh thoảng có người đi vào trong thời gian ngắn.

3.22. Hệ thống thiết kế sơ bộ (Pre-engineered Systems): Hệ thống gồm có một nguồn cung cấp chất chữa cháy có dung lượng quy định ghép nối với đường ống thiết bị vòi phun cân bằng đạt tới mức thiết kế lớn nhất cho phép.

Chú thích: Không cho phép có sai lệch của các giới hạn do nhà sản xuất hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định.

3.23. Van chọn (Selector Valve): Van được lắp sau ống phun của bình chất chữa cháy để hướng chất chữa cháy tới thể tích vùng nguy hiểm cháy.

Chú thích: Van chọn được dùng sau khi bố trí một hoặc nhiều bình chứa chất chữa cháy để phun có chọn lọc chất chữa cháy tới một thể tích nào đó trong một số thể tích riêng biệt vùng nguy hiểm cháy.

3.24. Sự nén tạo áp (Superpressurization): Sự tăng thêp khí cho bình chứa chất chữa cháy, khi cần thiết để đạt được áp suất quy định cho hoạt động của hệ thống.

3.25. Hệ thống phun chất chữa cháy tổng (Total Flooding System): Hệ thống được lắp để phun chất chữa cháy vào một không gian xung quanh được bịt kín để đạt được nồng độ thiết kế thích hợp.

3.26. Vùng không có người (Unoccupied Area): Vùng không ở được do hạn chế về kích thước hoặc các hạn chế khác đối với cơ thể con người.

Ví dụ: Các phòng quá nhỏ hẹp, khoảng trống quá nhỏ hẹp.

  1. CÁCH SỬ DỤNG VÀ CÁC GIỚI HẠN

4.1. Quy định chung

Thiết kế, lắp đặt, sử dụng và bảo dưỡng các hệ thống chữa cháy bằng khí phải do những người đủ năng lực về chuyên môn đối với hệ thống chữa cháy thực hiện.

Các nguy cơ (sự cố) về cháy được bảo vệ bằng các hệ thống chữa cháy này và các hạn chế trong sử dụng hệ thống phải được giới thiệu trong hoạt động của nhà cung cấp hệ thống chữa cháy.

Các hệ thống chữa cháy theo kiểu thể tích chủ yếu được dùng để bảo vệ chống các nguy cơ về cháy ở trong các vùng được bao bọc kín hoặc thiết bị được bao bọc kín có thể chứa được chất chữa cháy. Sau đây là các nguy cơ về cháy điển hình, nhưng bản liệt kê này chưa đầy đủ:

  1. Điện và điện tử;
  2. Phương tiện liên lạc viễn thông;
  3. Các chất lỏng và chất khí khác;
  4. Các tài sản có giá trị cao khác;

4.2. Chất chữa cháy

Các chất chữa cháy được quy định trong tiêu chuẩn này là các chất không dẫn điện.

Các chất chữa cháy và các thông số của hệ thống chuyên dụng được quy định trong các phần của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) cho các chất chữa cháy riêng. Các phần của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) phải được dùng kết hợp với tiêu chuẩn này.

Các chất chữa cháy được đề cập trong TCVN 7161:2002 (ISO 14520) không được phép sử dụng cho các đám cháy sinh ra các chất sau, trừ khi đã được thử nghiệm thích hợp thỏa mãn các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

  1. Các hóa chất tự chứa nguồn cung cấp oxy, như xenlulo nitrat;
  2. Các hỗn hợp có chứa các chất oxy hóa, như natri clorat hoặc natri nitrat;
  3. Các hóa chất có khả năng tự phân hủy nhiệt, như một số perxit hữu cơ;
  4. Các kim loại hoạt động (như natri, kali, magie, titan và ziriconi), các hydrua hoạt động khác, amit kim loại, một số kim loại trong các kim loại này có thể phản ứng rất mạnh với một số chất chữa cháy thể khí.
  5. Môi trường xung quanh mà các bề mặt đáng kể của nó có nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ phá hủy của chất chữa cháy, và được đốt nóng bằng phương tiện khác với đám cháy.

4.3. Sự phóng tĩnh điện

Phải chú ý khi phun chất chữa cháy vào môi trường có khả năng gây nổ. Có thể xảy ra sự nạp tĩnh điện của các vật dẫn điện chưa được nối đất trong quá trình phun chất chữa cháy. Các vật dẫn điện này có thể phóng tới các vật khác một năng lượng đủ lớn để gây ra vụ nổ. Khi hệ thống được dùng với đường ống dẫn khí trơ thì phải nối đất đầy đủ.

4.4. Tính tương thích với các chất chữa cháy khác

Chỉ được phép trộn lẫn các chất chữa cháy trong cùng một bình chứa khi hệ thống được công nhận sử dụng được với hỗn hợp này. Không được phép cho các hệ thống chữa cháy phun đồng thời các chất chữa cháy khác nhau để bảo vệ cùng một không gian đã được bao kín.

4.5. Giới hạn nhiệt độ

Tất cả các thiết bị phải được thiết kế cho sử dụng, chúng phải sẵn sàng hoạt động hoặc hoạt động bất cứ lúc nào. Các thiết bị thường được thiết kế để hoạt động tốt trong khoảng nhiệt độ từ -20oC đến +50oC, hoặc được ghi nhãn để chỉ các giới hạn nhiệt độ hoặc phải được ghi nhãn phù hợp với các đặc tính kỹ thuật của nhà sản xuất trên nhãn, hoặc (khi không có biển nhãn) phải theo hướng dẫn trong tài liệu hướng dẫn của nhà sản xuất.

  1. YÊU CẦU VỀ AN TOÀN

5.1. Nguy hiểm cho con người

Mọi nguy hiểm cho con người do sự phun các chất chữa cháy thể khí tạo ra phải được xem xét trong thiết kế hệ thống chữa cháy, đặc biệt là các mối nguy hiểm đối với các chất chữa cháy đặc biệt trong các phần bổ sung của TCVN 7161:2002 (ISO 14520). Khi không cần thiết tránh tiếp xúc với tất cả các chất khí chữa cháy.

Việc áp dụng TCVN 7161:2002 (ISO 14520) không loại bỏ trách nhiệm về pháp lý của người sử dụng là tuân thủ các quy tắc an toàn thích hợp.

Các sản phẩm phân hủy được tạo ra bởi sự phá hủy chất chữa cháy sạch khi có mặt của nhiệt lượng rất lớn có thể là nguy hiểm. Tất cả các chất halo cacbon hiện nay đều chứa flo. Với sự có mặt của hydro (từ hơi nước hoặc bản thân quá trình cháy) sản phẩm phân hủy chính là hydro florua (HF).

Các sản phẩm phân hủy này có mùi rất hắc, cay mặc dù nồng độ không đáng kể, chỉ là một vài phần triệu. Đặc tính này là dấu hiệu cảnh báo đối với chất chữa cháy, nhưng cũng là môi trường độc hại cho người phải đi vào vùng nguy hiểm sau khi chữa cháy.

Lượng chất chữa cháy sạch bị phân hủy trong khi dập tắt đám cháy phụ thuộc vào sự mở rộng kích thước đám cháy, chất chữa cháy sạch đặc biệt, nồng độ của chất chữa cháy và khoảng thời gian mà chất chữa cháy tiếp xúc với ngọn lửa hoặc bề mặt được nung nóng. Nếu nồng độ tăng rất nhanh tới giá trị tới hạn thì đám cháy sẽ được dập tắt nhanh và sự phân hủy sẽ được hạn chế ở mức nhỏ nhất có thể đối với chất chữa cháy này. Nếu thành phần của chất chữa cháy có thể tạo ra số lượng lớn các sản phẩm phân hủy và thời gian để đạt tới giá trị tới hạn dài thì số lượng các sản phẩm phân hủy sẽ rất lớn. Nồng độ thực tế của các sản phẩm phân hủy lúc này phụ thuộc vào thể tích của căn phòng trong đó có đám cháy đang cháy, mức độ hòa trộn và sự thông gió.

Sự tiếp xúc của chất chữa cháy trong thời gian dài với nhiệt độ cao có thể tạo ra các nồng độ lớn hơn của các khí này. Nên chọn kiểu và độ nhạy của dụng cụ phát hiện kết hợp với tốc độ xả sao cho có thể giảm tới mức nhỏ nhất thời gian tiếp xúc của chất chữa cháy sạch vơi nhiệt độ cao nếu nồng độ của các sản phẩm bị phá hủy là nhỏ nhất.

Các chất chữa cháy không khóa lỏng không phân hủy một cách đáng kể trong dập tắt một đám cháy. Như vậy, không tìm thấy các sản phẩm phân hủy độc hại hoặc ăn mòn. Tuy nhiên, các sản phẩm bị phá hủy của bản thân đám cháy có thể lớn và có thể làm khu vực đám cháy không bảo vệ được những người có mặt.

5.2. Các phòng ngừa về an toàn

5.2.1.Đối với các vùng có người

Các phòng ngừa tối thiểu về mặt an toàn phù hợp với Bảng 2.

Bảng 2: Các phòng ngừa tối thiểu về an toàn

Nồng độ lớn nhất Cơ cấu làm trễ thời gian Công tắc tự động /tay Cơ cấu khóa
Tới và bao gồm NOAEL x Không yêu cầu Không yêu cầu
Trên NOAEL và tới LOAEL x x Không yêu cầu
LOAEL và lớn hơn x x x
Chú thích: Mục đích của bảng này là để tránh sự tiếp xúc không cần thiết của con người với chất chữa cháy được phun ra. Các yếu tố như thời gian tiếp xúc và rủi ro cho người bởi đám cháy nên được xem xét khi xác định sự trễ thời gian phun của hệ thống. Theo yêu cầu của các tiêu chuẩn nhà nước, có thể có các phòng ngừa khác.

5.2.2.Đối với vùng thường và không có người

Nồng độ lớn nhất không được vượt quá LOAEL đối với chất chữa cháy được sử dụng trừ khi có lắp đặt một van khóa.

Các hệ thống trong đó mức tác hại không quan sát được NOAEL bị vượt quá nên được đặt ở chế độ không tự động, trong khi căn phòng có người.

Cảnh báo: Bất kỳ sự thay đổi nào về thể tích khu vực được bảo vệ, hoặc sự bổ sung thêm hoặc loại bỏ các thành phần không có trong thiết kế ban đầu sẽ ảnh hưởng tới nồng độ của chất chữa cháy. Trong những trường hợp này, hệ thống phải được tính toán lại để bảo đảm đạt được nồng độ thiết kế yêu cầu và nồng độ lớn nhất phù hợp với Bảng 2.

5.2.3.Đối với vùng không có người

Nồng độ lớn nhất có thể vượt quá LOAEL đối với chất chữa cháy được dùng mà không cần phải lắp một van khóa.

5.3. Vùng có người

Trong các vùng được bảo vệ bằng các hệ thống phun chất chữa cháy toàn bộ và có thể có người phải được trang bị như sau:

  1. Cơ cấu làm trễ thời gian

1) Đối với các ứng dụng trong đó sự làm trễ đối với quá trình phun không làm tăng lên đáng kể mối hiểm họa cháy cho người hoặc tài sản thì các hệ thống chữa cháy phải được trang bị tín hiệu báo động trước khi xả với độ trễ thời gian cho phép sơ tán người;

2) Cơ cấu làm trễ thời gian chỉ được sử dụng để sơ tán người hoặc để chuẩn bị tạo vùng nguy hiểm cháy cho việc phun;

  1. Công tắc tự động / tay và cơ cấu khóa nếu cần theo 5.2;

Chú thích: Các cơ cấu khóa thường không có nhu cầu, chúng được sử dụng chủ yếu trong một số trường hợp, đặc biệt là cho một số chức năng bảo dưỡng riêng.

  1. Đường thoát hiểm, phải được giữ sạch sẽ trong mọi lúc, đèn chiếu sáng khẩn cấp và chỉ dẫn thoát nạn cần đầy đủ để giảm tới mức nhỏ nhất quãng đường phải đi;
  2. Cửa ra vào tự động đóng mở ra phía ngoài, có thể mở được từ bên trong ngay cả khi được khóa từ bên ngoài;
  3. Các tín hiệu báo động liên tục bằng ánh sáng và âm thanh tại các cửa vào và ra được chỉ định bên trong vùng được bảo vệ và các tín hiệu báo động liên tục bằng ánh sáng bên ngoài vùng bảo vệ, phải hoạt động cho tới khi vùng bảo vệ đã an toàn.
  4. f. Các tín hiệu cảnh báo và hướng dẫn thích hợp;
  5. g. Khi có yêu cầu, các tín hiệu báo động trước khi phun có đặc điểm riêng so với tất cả các tín hiệu báo động khác sẽ hoạt động tức thời từ lúc bắt đầu của sự trễ thời gian để phát hiện đám cháy;
  6. Các phương tiện thông gió tự nhiên hoặc cưỡng bức ở các vùng này sau khi phun chất chữa cháy. Sự thông gió cưỡng bức thường rất cần thiết. Phải chú ý làm khuếch tán hoàn toàn các khí nguy hiểm và không để chúng lây lan sang các vị trí khác vì phần lớn các chất chữa cháy đều nặng hơn không khí;
  7. i. Các hướng dẫn và các bài tập luyện cho tất cả những người ở trong hoặc ở lân cận các vùng được bảo vệ, bao gồm cả việc duy trì hoặc tổ chức nhân lực để đưa vào vùng bảo vệ để đảm bảo những người này hành động đúng khi hệ thống chữa cháy hoạt động. Ngoài các yêu cầu trên cần đáp ứng các vấn đề sau:

– Nên cung cấp thiết bị hô hấp và các nhân viên được đào tạo về sử dụng thiết bị này.

– Các nhân viên không đi vào trong khu vực được bảo vệ cho tới khi đã được kiểm tra là họ có đủ điều kiện đảm bảo an toàn để làm nhiệm vụ.

5.4. Các nguy hiểm về điện

Khi có mặt các vật dẫn điện, các khoảng hở giữa các vật dẫn điện và tất cả các chi tiết của hệ thống có tiếp xúc trong quá trình bảo dưỡng, không được nhỏ hơn các giá trị được cho trong Bảng 3. Khi không đạt được các khoảng hở này phải có lời cảnh báo và hệ thống đảm bảo an toàn cho công việc bảo dưỡng.

Hệ thống phải được bố trí sao cho có thể thực hiện được tất cả các hoạt động bình thường với việc đảm bảo an toàn cho người vận hành.

5.5. Nối đất

Các hệ thống bên trong trạm điện hoặc buồng điều khiển phải được đấu nối có hiệu quả và được nối đất để đề phòng kim loại bị rò điện.

5.6. Sự phóng tĩnh điện

Hệ thống phải được đấu nối thích hợp và được nối đất để giảm tới mức nhỏ nhất sự cố phóng tĩnh điện.

  1. THIẾT KẾ HỆ THỐNG

6.1. Quy định chung

Điều này đưa ra các yêu cầu đối với thiết kế hệ thống chữa cháy.

Tất cả các hệ thống và chi tiết phụ trợ phải tuân theo các tiêu chuẩn Việt Nam tương ứng.

6.2. Cung cấp chất chữa cháy

6.2.1.Số lượng

6.2.1.1. Lượng chất chữa cháy tối thiểu trong hệ thống phải đủ để dập tắt một đám cháy lớn nhất riêng biệt hoặc một nhóm đám cháy được bảo vệ đồng thời.

Bảng 3: Khoảng cách an toàn để có thể thcự hiện việc vận hành, kiểm tra, làm vệ sinh, sửa chữa, sơn và các công việc bảo dưỡng thông thường.

Điện áp danh định lớn nhất (kV) Khoảng hở nhỏ nhất từ bất kỳ điểm nào ở trên hoặc xung quanh thiết bị mà một người có thể đứng được(a)
Tới vật có dòng điện chạy qua gần nhất không bị che khuất trong không khí (khoảng cách bộ phận), m Tới phần gần nhất không nối đất của một bộ phận cách điện(b) đỡ vật có dòng điện chạy qua (khoảng cách tới đất), m
15

33

44

66

88

110

132

165

220

275

2,6

2,75

2,90

3,10

3,20

3,35

3,50

3,80

4,30

4,60

2,5
(a) Được đo từ vị trí của các bàn chân;

(b) Thuật ngữ bộ phận cách điện bao gồm tất cả các dạng của các giá cách điện như bệ, chân, trụ cách điện, vật cách điện treo, ống cách điện, các đầu bịt cáp cách điện và các giá đỡ cách điện của một số loại cầu dao điện.

Phải có giá đỡ thích hợp cho các vòi phun và các phản lực của chúng sao cho không có trường hợp nào mà khoảng cách từ giá đỡ cuối cùng lớn hơn các giá trị sau:

  1. Đối với ống có đường kính ≤25mm; ≤100mm
  2. Đối với ống có đường kính >25mm; ≤250mm

Sự dịch chuyển của đường ống do các dao động nhiệt độ môi trường tăng lên hoặc khi phun chất chữa cháy có thể là đáng kể, đặc biệt là trên các chiều dài lớn và nên được xem xét treong các phương pháp kẹp cố định giá đỡ.

Bảng 4: Nhịp đỡ lớn nhất của đường ống

Đường kính danh nghĩa của ống (DN), mm Nhịp đỡ lớn nhất của đường ống, m
6

10

0,5

1,0

15

20

25

1,5

1,8

2,1

32

40

50

2,4

2,7

3,4

65

80

100

3,5

3,7

4,3

125

150

200

4,8

5,2

5,8

6.3.5.Van

6.3.5.1. Tất cả van, đệm kín, vòng đệm chữ O, vật liệu bịt kín và các chi tiết khác của van phải được thiết kế bằng vật liệu thích hợp với chất chữa cháy và phải thích hợp với các áp suất và nhiệt độ khi làm việc.

6.3.5.2. Các van phải được bảo vệ chống hư hỏng cơ học, hóa học hoặc các hư hỏng khác.

6.3.5.3. Phải sử dụng các vật liệu chịu ăn mòn hoặc các lớp phủ trong môi trường có sự ăn mòn khốc liệt.

6.3.6.Đầu phun

6.3.6.1. Lựa chọn và bố trí đầu phun

Các đầu phun, bao gồm cả các đầu phun được gắn trực tiếp vào các bình chứa phải được phê duyệt và phải được định vị phù hợp với kích thước hình học của khu vực được bảo vệ đã xem xét.

Số loại (kiểu) và sự bố trí các đầu phun phải sao cho:

  1. a) Đạt được nồng độ thiết kế trong tất cả các phần của khu vực được bảo vệ;
  2. b) Khi phun không được phun quá mức các chất lỏng cháy được hoặc tạo ra các đám mây bụi có thể mở rộng đám cháy, tạo ra tiếng nổ hoặc các ảnh hưởng có hại khác đối với những người đang có mặt;
  3. c) Tốc độ phun không được ảnh hưởng có hại đến khu vực được bảo vệ hoặc các vật dụng chứa bên trong.

Khi có thể bị tắc bởi các vật liệu lạ, các đầu vòi phun phải được trang bị các đĩa hoặc các nắp nổ. Các bộ phận này phải có một khe hở cho hoạt động của hệ thống và phải được thiết kế và bố trí để không gây thương tích cho người. Các đầu phun phải thích hợp cho sử dụng và phải được phê duyệt về đặc tính phun, bao gồm các giới hạn của diện tích bao phủ và chiều cao.

Các đầu phun phải có độ bền thích hợp cho sử dụng với áp suất làm việc quy định, chúng phải có khả năng chịu được sự tác động quá mức về cơ học và phải được thiết kế để chịu được nhiệt độ quy định mà không biến dạng.

Các ống lót lỗ phun của đầu phun phải được làm bằng vật liệu chịu ăn mòn.

6.3.6.2. Đầu phun cho lớp mái trần nhẹ

Để giảm tới mức tối thiểu khả năng làm nâng lên hoặc dịch chuyển các mái trần nhẹ có khối lượng nhẹ, phải chú ý đảm bảo giữ chặt mái trần nhẹ cách mỗi đầu phun một khoảng nhỏ nhất là 1,5m.

Chú thích: Các tốc độ phun được tạo ra bởi kết cấu của các đầu phun có thể là một yếu tố làm dịch chuyển các mái trần nhẹ.

6.3.6.3. Ghi nhãn

Các đầu phun phải được ghi nhãn bền vững để nhận diện nhà sản xuất và kích thước của lỗ phun.

6.3.6.4. Bộ lọc

Đầu vào của bất kỳ cụm đầu phun hoặc cụm giảm áp nào có lỗ phun với diện tích nhỏ hơn 7mm2 phải được lắp một bộ lọc bên trong có khả năng ngăn ngừa làm tắc lỗ phun.

6.4. Các hệ thống phát hiện, vận hành và điều khiển

6.4.1.Quy định chung

Các hệ thống phát hiện, vận hành và điều khiển có thể là hệ thống tự động hoặc bằng tay. Các hệ thống tự động cũng phải có khả năng vận hành bằng tay.

Các hệ thống phát hiện, vận hành, báo động và điều khiển phải được lắp đặt, thử nghiệm và bảo trì phù hợp với các tiêu chuẩn Việt Nam thích hợp.

Nếu trong tiêu chuẩn Việt Nam không có quy định nào khác, phải sử dụng các nguồn năng lượng tối thiểu là trong 24h để cung cấp cho các yêu cầu hoạt động về phát hiện, tín hiệu, điều khiển và vận hành của hệ thống.

6.4.2.Phát hiện tự động

Sự phát hiện tự động phải được thực hiện bằng một phương pháp hoặc thiết bị nào đó do cơ quan có thẩm quyền chấp nhận và phải có khả năng phát hiện sớm và chỉ báo mức độ tăng nhiệt, ngọn lửa, khói, các hơi cháy hoặc trạng thái không bình thường trong sự cố tạo ra đám cháy.

Chú thích: Các đầu báo phát hiện, nếu lắp ở khoảng cách lớn nhất cho phép để báo động đám cháy, có thể gây ra sự chậm trễ quá mức trong việc phun chất chữa cháy, đặc biệt là khi cần nhiều hơn một thiết bị phát hiện để báo động các kết quả trước khi vận hành tự động.

6.4.3.Các thiết bị vận hành

6.4.3.1. Vận hành tự động

Các hệ thống tự động phải được điều khiển bằng đầu bình chứa tự động và vận hành tự động thích hợp cho hệ thống chữa cháy, sự cố cháy và cũng phải được trang bị phương tiện cho vận hành bằng tay.

Các hệ thống bình chứa hoạt động bằng điện phải tuân theo tiêu chuẩn Việt Nam thích hợp. Nguồn cung cấp điện phải độc lập đối với nguồn điện cho vùng có sự cố cháy và phải có một nguồn cung cấp điện phụ khẩn cấp với bộ đổi nối mạch điện tự động trong trường hợp nguồn cung cấp điện chính bị hỏng.

Khi sử dụng hai hoặc nhiều bộ đầu báo như các đầu báo khói hoặc đầu báo lửa, chỉ nên cho hệ thống hoạt động sau khi đã nhận được các tín hiệu từ hai đầu báo.

6.4.3.2. Vận hành bằng tay

Phải chuẩn bị đầy đủ cho vận hành bằng tay hệ thống chữa cháy bằng một bộ điều khiển đặt ở bên ngoài không gian được bảo vệ hoặc liền kề với lối ra chính từ không gian này.

Ngoài phương tiện vận hành tự động, hệ thống chữa cháy phải được cung cấp các trang bị sau:

  1. a) Một hoặc nhiều phương tiện vận hành bằng tay đặt cách xa các bình chứa;
  2. b) Một cơ cấu điều khiển bằng tay để điều khiển trực tiếp bằng cơ khí đối với hệ thống; hoặc:
  3. c) Một hệ thống ngắt điện bằng tay, trong đó thiết bị kiểm soát giám sát tình trạng không bình thường trong nguồn cung cấp điện và cung cấp tín hiệu khi nguồn điện không đủ.

Sự vận hành bằng tay phải tạo ra hoạt động đồng thời của các van tự động thích hợp để ngắt và phân phối chất chữa cháy.

Chú thích 1: Các tiêu chuẩn Việt Nam có thể không yêu cầu sự ngắt bằng tay hoặc có thể yêu cầu ngắt để vận hành thông qua các tín hiệu báo phun sơ bộ và sự trễ thời gian.

Cơ cấu vận hành bằng tay phải có một tác động kép hoặc bộ phận an toàn khác để hạn chế sự vận hành bất ngờ. Cơ cấu phải được trang bị phương tiện để ngăn ngừa sự vận hành trong quá trình bảo dưỡng hệ thống chữa cháy.

Chú thích 2: Việc lựa chọn phương tiện vận hành sẽ phụ thuộc vào bản chất của mối nguy hiểm cháy được bảo vệ. Thiết bị tự động phát hiện đám cháy và báo động thường được trang bị cho một hệ thống chữa cháy bằng tay để chỉ báo sự xuất hiện của đám cháy.

6.4.4.Thiết bị điều khiển

6.4.4.1. Thiết bị điều khiển bằng điện

Phải sử dụng thiết bị điều khiển bằng điện để giám sát mạch phát hiện, mạch ngắt bằng tay và tự động, mạch tín hiệu, cơ cấu khởi động điện và đường dây dẫn và khi có yêu cầu, để khởi động vận hành các bộ phận trên. Thiết bị điều khiển phải có khả năng hoạt động cùng với số lượng và kiểu cơ cấu khởi động được dùng.

6.4.4.2. Thiết bị điều khiển bằng khí nén

Khi sử dụng thiết bị điều khiển bằng khí nén, đường ống phải được bảo vệ chống bị uốn, gấp và hư hỏng cơ khí. Khi các thiết bị lắp đặt có thể bị phơi ra trong điều kiện dẫn đến tổn thất hoặc không đảm bảo tính toàn vẹn của đường ống khí nén, phải đặc biệt chú ý để đảm bảo không xảy ra sự tổn thất hoặc mất đi tính toàn vẹn của đường ống.

6.4.5.Các bộ phận báo động và chỉ báo vận hành

6.4.5.1. Các bộ phận báo động và chỉ báo, hoặc cả hai phải được sử dụng để chí báo sự hoạt động của hệ thống chữa cháy, mối nguy hiểm đối với con người hoặc sự hư hỏng của cơ cấu giám sát. Kiểu (nghe, nhìn hoặc ngửi mùi), số lượng, vị trí của các bộ phận phảo đảm bảo sao cho cùng hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Mức độ báo động hoặc chỉ báo và kiểu bộ phận báo động hoặc chỉ báo hoặc cả hai phải được phê duyệt.

6.4.5.2.Các bộ phận báo động bằng âm thanh và ánh sáng trước khi phun phải được lắp đặt trong khu vực bảo vệ để cảnh báo một cách chắc chắn cho việc sắp phun;

sự hoạt động của bộ phận cảnh báo phải liên tục từ khi phun chất chữa cháy tới khi việc báo động đã được xác nhận và bắt đầu một hoạt động thích hợp.

6.4.5.3.Các bộ phận báo động chỉ báo hư hỏng của các cơ cấu giám sát hoặc thiết bị phải cung cấp nhanh và chính xác các chỉ báo về hư hỏng và phải khác với tín hiệu các bộ phận báo động chỉ báo tình trạng hoạt động hoặc nguy hiểm.

6.4.6.Công tắc dừng

Các công tắc dừng, khi được lắp đặt, phải được bố trí trong khu vực được bảo vệ và gần đường ra. Công tắc dừng phải là loại có lực tay không đổi để dừng hoạt động của hệ thống chữa cháy. Hoạt động của chức năng dừng phải dẫn đến cả hai hình thức chỉ báo bằng âm thanh và ánh sáng phân biệt về sự hư hỏng của hệ thống. Công tắc dừng hoạt động khi hệ thống ở trạng thái tĩnh phải chuyển thành tín hiệu chỉ báo lỗi ở thiết bị điều khiển. Mục đích sử dụng của công tắc dừng phải được nhận ra một cách rõ ràng.

  1. CHẤT CHỮA CHÁY

7.1. Quy định chung

Điều này quy định các yêu cầu về đặc tính kỹ thuật, tính toán lưu lượng của hệ thống chữa cháy và nồng độ của chất chữa cháy. Nội dung của điều này có liên quan đến phần thích hợp của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) cho các chất chữa cháy riêng.

7.2. Đặc tính kỹ thuật, kế hoạch và phê duyệt

7.2.1.Đặc tính kỹ thuật

Đặc tính kỹ thuật của các hệ thống chữa cháy bằng khí phải được soạn thảo dưới sự giám sát của người có đầy đủ kinh nghiệm trong việc thiết kế hệ thống chữa cháy bằng khí và khi thích hợp có sự cố vấn của cơ quan có thẩm quyền. Đặc tính kỹ thuật phải bao gồm các điều khoản thích đáng cần thiết thiết cho việc thiết kế chính xác hệ thống như đặt ký hiệu của cơ quan có thẩm quyền; các thay đổi so với tiêu chuẩn được phép của cơ quan có thẩm quyền, các tiêu chuẩn thiết kế, trình tự hoạt động của hệ thống, kiểu và quy mô thử chấp nhận (nghiệm thu) được thực hiện sau khi lắp đặt hệ thống và các yêu cầu về đào tạo người sử dụng. Đặc tính kỹ thuật của chất chữa cháy được bao gồm trong các phần khác nhau của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) cho các chất chữa cháy riêng.

7.2.2.Tài liệu làm việc

Các tài liệu bố trí và đề nghị phê duyệt hệ thống phải được trình cho cơ quan có thẩm quyền trước khi lắp đặt hoặc bắt đầu cải tiến. Loại tài liệu yêu cầu được quy định trong Phụ lục A.

7.3. Tính toán lưu lượng của hệ thống

7.3.1.Quy định chung

Tính toán lưu lượng của hệ thống áp dụng ở điều khiển nhiệt độ bảo quản chất chữa cháy danh nghĩa 20oC, phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bằng các thử nghiệm thích hợp như đã quy định trong tiêu chuẩn này và phải được nhận diện một cách chính xác. Việc thiết kế hệ thống phải ở trong các giới hạn quy định của nhà sản xuất.

Chú thích:

  1. Các biến đổi so với nhiệt độ bảo quản danh nghĩa 20C sẽ ảnh hưởng tới các điều kiện, lưu lượng đã dùng trong tính toán.
  2. Các hệ thống được thiết kế sơ bộ không yêu cầu tính toán lưu lượng khi được sử dụng trong các giới hạn phê duyệt.

7.3.2.Hệ thống cân bằng và không cân bằng

7.3.2.1.Hệ thống cân bằng phải là hệ thống trong đó:

  1. Mỗi chiều dài ống thực tế hoặc tương đương tính từ bình chứa tới mỗi đầu phun chênh lệch nhau không quá 10%.
  2. Lưu lượng phun của mỗi đầu phun đều bằng nhau (xem Hinh 1)

7.3.2.2. Các hệ thống không đáp ứng được các yêu cầu này phải được xem là các hệ thống không cân bằng (xem Hình 2)

7.3.3.Tổn thất do ma sát

Cho phép có tổn thất do ma sát trong các ống, van, bình chứa, các ống nghiêng, các đầu nối dẻo, uốn được, van chọn, cơ cấu làm trễ thời gian và các thiết bị khác (ví dụ: cơ cấu giảm áp) trong dòng chảy.

Chú thích: Dòng khí hóa lỏng đã được chứng minh là một hiện tượng hai pha, pha lỏng gồm một hỗn hợp của chất lỏng và hơi, tỷ lệ của chúng phụ thuộc vào áp suất và nhiệt độ. Sự sụt áp không theo quy luật tuyến tính, sự tăng tổn thất áp suất là vì áp suất trong đường ống giảm đi do ma sát.

7.3.4.Sự sụt áp

Sự sụt áp phải được tính toán khi sử dụng các phương trình dòng hai pha đối với các khí hóa lỏng và các phương trình dòng một pha đối với các khí không hóa lỏng.

Chú thích: Các phương trình này sử dụng các hệ số ma sát và các hằng số phụ thuộc ào áp suất và mật độ đạt theo kinh nghiệm. Vì các phương trình không thể giải được một cách trực tiếp nên thường dùng một chương trình máy tính để trợ giúp với số lượng lớn các tính toán lặp lại; trong đó, các kích thước của ống và đầu phun và nếu thích hợp, kích thước của các cơ cấu giảm áp suất được chọn trong phạm vi các tổn thất áp suất quy định.

nh 1: Hệ thống cân bằng điển hình

nh 2: Hệ thống không cân bằng điển hình

7.3.5.Van và phụ tùng đường ống

Các van và phụ tùng đường ống phải được đánh giá về hệ số cản hoặc chiều dài tương đương bằng ống hoặc các kích thước ống được sử dụng với van và phụ tùng đường ống. Chiều dài tương đương của các van, bình chứa phải được quy định và phải bao gồm ống xi phông (nếu được lắp đặt), van, đầu xả và đầu nối mềm (uốn được).

7.3.6.Chiều dài đường ống

Chiều dài đường ống, đầu phun và hướng lắp đặt phải theo tài liệu hướng dẫn của nhà sản xuất đã được phê duyệt để đảm bảo tính năng làm việc đúng đắn của hệ thống chữa cháy.

7.3.7.Bản vẽ thiết kế

Nếu việc lắp đặt lần cuối có sự thay đổi so với bản vẽ tính toán đã được soạn thảo thì phải lập bản vẽ lắp đặt mới và các tính toán mới.

7.3.8.Các khí hóa lỏng: yêu cầu kỹ thuật riêng

7.3.8.1.Cho phép có các thay đổi nâng lên như đã quy định trong phần tương ứng của TCVN 7161:2002 (ISO 14520) có liên quan đến chất chữa cháy riêng.

7.3.8.2.Tốc độ phun nhỏ nhất đối với các chất chữa cháy hóa lỏng phải đủ để duy trì tốc độ yêu cầu cho dòng chảy rối để phòng tránh sự chia tách.

Chú thích: Nếu không duy trì được dòng chảy sẽ xảy ra sự chia tách giữa các pha lỏng và khi có thể dẫn đến các đặc tính không thể đoán trước được của dòng chảy.

7.4. Cấu kiện bao che

7.4.1.Cấu kiện bao che bảo vệ phải có đủ độ bền và tấm liền để chặn lại dòng phun chất chữa cháy. Phải có lỗ thủng để ngăn ngừa sự tăng hoặc giảm áp quá mức trong cấu kiện bao che.

7.4.2.Để tránh sự tổn hao chất chữa cháy qua các khoảng hở khu vực liền kề với vùng nguy hiểm cháy hoặc khu vực làm việc, các lỗ mở phải được bịt kín cố định hoặc được lắp đặt các cấu kiện bao che đóng mở tự động. Khi không thực hiện được việc hạn chế chất chữa cháy, vùng bảo vệ phải được mở rộng để bao gồm cả vùng lân cận nối với vùng có nguy hiểm cháy hoặc vùng làm việc.

7.4.3.Các hệ thống thông gió cưỡng bức phải dừng lại hoặc tự động ngắt khi sự hoạt động tiếp tục của chúng ảnh hưởng có hại đến tính năng làm việc của hệ thống chữa cháy hoặc làm cho đám cháy lan rộng. Các hệ thống thông gió cần thiết để đảm bảo an toàn cho phép không cần phải dừng lại khi hệ thống chữa cháy hoạt động. Phải tính thêm lượng chất chữa cháy duy trì nồng độ thiết kế trong thời gian bảo vệ quy định. Các thể tích của đường ống dẫn không khí thông gió và đường ống hệ thống gió phải được xem là một phần của thể tích tổng vùng nguy hiểm cháy khi xác định số lượng chất chữa cháy.

Tất cả các hoạt động trong khu vực bảo vệ (ví dụ: sự cung cấp nhiên liệu, năng lượng, các thiết bị đun nóng, sự phun sơn) có thể làm suy giảm tính năng làm việc của hệ thống chữa cháy nên dừng lại trước khi hoặc cùng một lúc với việc phun chất chữa cháy.

7.5. Yêu cầu về nồng độ chất chữa cháy

7.5.1.Dập tắt ngọn lửa

7.5.1.1.Đối với việc phân loại đám cháy, xem TCVN 4878-89 (ISO 3941).

7.5.1.2.Nồng độ thiết kế nhỏ nhất cho đám cháy loại B đối với mỗi chất chữa cháy phải là nồng độ dập tắt cho mỗi nhiên liệu thuộc đám cháy loại B nhân với hệ số an toàn 1,3. Nồng độ dập tắt được dùng phải là nồng độ được xác định bằng cách đốt chất khí thử nghiệm theo phương pháp được yêu cầu trong Phụ lục B. Phương pháp này đã được kiểm tra với heptan khi dùng quy trình thử đám cháy bằng cách dập tắt lửa/phủ khu vực cháy được chi tiết hóa trong Phụ lục C. Đối với các sự cố cháy do nhiên liệu có nhiều thành phần, phải dùng nồng độ thiết kế lớn nhất.

Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng: