TCVN 6294 : 1997 ISO 10460 : 1993 CHAI CHỨA KHÍ – CHAI CHỨA KHÍ BẰNG THÉP CÁCBON HÀN – KIỂM TRA VÀ THỬ ĐỊNH KỲ


TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 6294 : 1997

ISO 10460 : 1993

CHAI CHỨA KHÍ – CHAI CHỨA KHÍ BẰNG THÉP CÁCBON HÀN – KIỂM TRA VÀ THỬ ĐỊNH KỲ

Gas cylinders – Welded carbon steel gas cylinders – Periodic inspection and testing

Lời nói đầu

TCVN 6294 : 1997 hoàn toàn tương đương với ISO 10460 : 1993.

TCVN 6294 : 1997 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC 58 Bình chứa ga biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành.

CHAI CHỨA KHÍ – CHAI CHỨA KHÍ BẰNG THÉP CÁCBON HÀN

KIỂM TRA VÀ THỬ ĐỊNH KỲ

Gas cylinders – Welded carbon steel gas cylinders – Periodic inspection and testing

  1. Phạm vi ứng dụng

Tiêu chuẩn này quy định những yêu cầu tối thiểu với việc kiểm tra và thử định kỳ để xác định tình trạng kỹ thuật của chai chứa khí để sử dụng tiếp. Tiêu chuẩn này không loại trừ việc áp dụng các quy định bổ sung của quốc gia.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho các chai chứa khí làm bằng thép các bon hàn có thể vận chuyển được để chứa khí nén, khí hóa lỏng hay khí hòa tan dưới áp suất từ khí acetylene và khí đốt hóa lỏng (LPG), với dung tích chứa nước từ 1 lít đến 150 lít; Tiêu chuẩn này cũng được áp dụng cho tất cả các chai với dung tích nước nhỏ hơn 1 lít.

Các tiêu chuẩn khác sẽ có các yêu cầu tương tự với các chai bằng thép không hàn, chai bằng nhôm không hàn, chai đựng acetylen và khí đốt hóa lỏng (LPG) và việc kiểm tra và thử phải được thực hiện trong quá trình nạp thông thường.

  1. Tiêu chuẩn trích dẫn

TCVN 6293 : 1997 (ISO 32 : 1977) Chai chứa khí dùng trong y tế – Ghi nhãn để nhận biết khí chứa.

TCVN 6291 : 1997 (ISO 448 :1981) Chai chứa khí dùng trong công nghiệp – Ghi nhãn để nhận biết khí chứa.

TCVN 6292 : 1997 (ISO 4706 : 1989) Chai chứa khí bằng thép hàn có thể nạp lại.

ISO 10297 – 1) Van của chai chứa khí – Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử.

  1. Danh mục các bước tiến hành để kiểm tra và thử định kỳ

Từng chai phải được kiểm tra và thử định kỳ theo trình tự sau:

  1. a) xác định chai và chuẩn bị để kiểm tra và thử;
  2. b) kiểm tra bề ngoài chai bằng mắt thường;
  3. c) kiểm tra bên trong chai bằng mắt thường;
  4. d) kiểm tra các mối hàn;
  5. e) xác định khối lượng chai hoặc bì;
  6. f) kiểm tra đầu ren của chai;
  7. g) thử thủy lực;
  8. h) sửa chữa chai;
  9. i) kiểm tra chai;
  10. j) các thao tác cuối cùng.

Sau khi kiểm tra và thử mà thấy có vấn đề nghi ngờ thì phải tiến hành thử thêm.

  1. Khoảng cách giữa các lần kiểm tra và thử định kỳ

Khoảng cách giữa các lần kiểm tra và thử định kỳ thường do các cơ quan quốc gia có thẩm quyền quy định. Nếu không có các quy định như vậy thì có thể áp dụng các khoảng thời gian được nêu trong phụ lục A.

  1. Xác định chai và chuẩn bị để kiểm tra và thử

Trước khi tiến hành bất kỳ công việc gì phải xác định chai và khí chứa trong chai. Chai phải được đuổi hết khí chứa bên trong bằng một quy trình đảm bảo an toàn và quá trình giảm áp suất phải được khống chế (điều khiển được).

Nếu nghi ngờ van bị tắc thì phải kiểm tra kỹ xem liệu van đã thông khí hay chưa. Các quy trình thử tiêu biểu được nêu trong phụ lục B.

Phải đặc biệt chú ý các chai chứa khí độc, khí gây cháy và khí dễ cháy. Chai phải được đuổi hết khí chứa bên trong tại các trạm thử có trang bị phù hợp do các nhân viên vận hành được đào tạo về loại khí này thực hiện.

Nếu không xác định được loại khí trong chai hoặc các chai không thể đuổi sạch khí chứa bên trong chai một cách an toàn thì phải xếp riêng một chỗ để xử lý.

Nếu các yêu cầu trên được tuân thủ thì có thể tháo van ra được.

  1. Kiểm tra bề ngoài chai bằng mắt thường

6.1. Kiểm tra xem chai đã được làm sạch lớp sơn, các sản phẩm do ăn mòn, nhựa, dầu hay các chất ngoại lai khác cũng như nhãn, đồ gá lắp để vận chuyển trên bề mặt ngoài của nó bằng dụng cụ và phương pháp thích hợp, ví dụ cọ bằng bàn chải thép, phun bi, làm sạch bằng vòi nước áp suất cao, làm sạch bằng hóa chất…phải thận trọng để không làm hỏng chai.

6.2. Bề mặt của chai đặc biệt vùng có các mối hàn phải được kiểm tra về:

  1. a) các vết lõm trên bề mặt, vết cắt, vết đục, chỗ phồng ra, vết rạn, bong vẩy hay;
  2. b) sự ăn mòn, đặc biệt chú ý đến các vùng mà nước có thể đọng, đế của chai và chỗ nối giữa than chai và vành chân và/ hoặc tấm chắn;
  3. c) các khuyết tật khác như nhãn đóng không hợp pháp hay không được ủy quyền, các sai hỏng do nhiệt, hồ quang điện hay cháy, các việc làm thêm sửa chữa hay chưa được ủy quyền (cho phép);
  4. d) sự vẹn toàn của tất cả bộ phận gắn kèm vĩnh viễn.

6.3. Các giới hạn loại bỏ tiêu biểu được nêu ra để chỉ dẫn ở phụ lục C.

  1. Kiểm tra bên trong bằng mắt thường

Chai phải được kiểm tra toàn bộ bề mặt bên trong bằng cách sử dụng các thiết bị thích hợp (ví dụ đèn) để xác định tất cả khuyết tật như đã nêu trong 6.2. Bất kỳ chai nào có các chất ngoại lai hoặc có các dấu hiệu ăn mòn bề mặt trầm trọng phải được làm sạch bề mặt bên trong bằng cách phun hạt (trong các điều kiện được kiểm tra chặt chẽ), làm sạch bằng tia nước áp lực cao, bằng cách đập, bằng tia hơi, bằng tia nước nóng, bằng quay mài, làm sạch hóa học hay bằng một phương pháp thích hợp khác. Phải chú ý để tránh làm hỏng chai. Nếu việc làm sạch chai là cần thiết thì sau khi làm sạch chai phải được kiểm tra một lần nữa.

  1. Các phép bổ sung

Khi có sự nghi ngờ về kết quả kiểm tra về các khuyết tật đã được phát hiện khi kiểm tra bằng mắt, thì có thể áp dụng thử thêm hay các phương pháp kiểm tra khác, ví dụ kỹ thuật siêu âm hay chụp tia bức xạ hay các phương pháp thử không phá hủy khác. Nếu chai không đạt thì phải loại bỏ.

  1. Xác định khối lượng chai hay bì

Phải xem xét kỹ nhãn được đóng trên chai để xác định xem nhãn ghi khối lượng của chai hay bì.

Chú thích 1 – Khối lượng chai là khối lượng tính bằng kilogam của một chai rỗng cùng với các bộ phận khác được gắn vào (ví dụ vòng đế chai và vòng cổ chai) nhưng không kể van. Nhãn này được đánh dấu bằng chữ M. Bì của chai là khối lượng tính bằng kilogam của chai rỗng với các bộ phận được gắn vào (ví dụ vòng đế chai và vòng cổ chai) kể cả van và tấm chắn vĩnh cửu (nếu có). Nhãn này được đánh dấu bằng chữ T. Khối lượng của chai hay bì được biểu thị bằng 3 chữ số có nghĩa, chữ số thứ ba được làm tròn lên đối với khối lượng chai hay bì lớn hơn 10 kg. Khi khối lượng đó nhỏ hơn 10 kg thì chúng được biểu thị chỉ bằng 2 chữ số có nghĩa.

Ví dụ:

Khối lượng chai hay bì đo được:                         1,0645            10,675        106,55

Khối lượng chai hay bì được biểu thị là:    1,1                  10,7          107

Chai phải được cân trên các thiết bị được hiệu chỉnh để xác định khối lượng thực của chai/bì. Phép cân này được so sánh với khối lượng chai/bì nguyên sinh ghi trên chai. Nếu chai có sự chênh lệch về khối lượng chai/bì lớn hơn 5% khối lượng chai/bì nguyên sinh thì chai phải bị loại bỏ (xem 14.4a).

  1. Kiểm tra ren của chai

10.1. Ren phía trong cổ chai và ren trong của các đầu nối, ví dụ đầu nối với các thiết bị an toàn phải được kiểm tra để đảm bảo chúng là hoàn chỉnh, sạch và không bị sứt, rạn nứt và không có các khuyết tật khác.

10.2. Các ren bên trong cổ và các ren bên ngoài khác phải được kiểm tra về độ vẹn an toàn và sự sai hỏng ren.

10.3. Khi cần thiết và khi thiết kế cho phép thì các ren bị sai hỏng có thể được sửa chữa bằng phương pháp thích hợp và được kiểm tra lại bằng dưỡng thích hợp.

  1. Thử thủy lực

Từng chai phải qua thử áp suất thủy lực, với môi trường thử là chất lỏng thích hợp. Đó có thể là phép thử bền bằng thử áp lực hoặc phép thử giãn nở thể tích.

Áp suất thử phải được xác định từ nhãn đính trên chai, hoặc trực tiếp hay gián tiếp từ áp suất nạp.

11.1. Thử kiểm tra bền áp lực

Phép thử này yêu cầu áp suất trong chai phải tăng lên từ từ cho đến khi đạt được áp suất thử. Áp suất thử trong chai sẽ được giữ trong một thời gian đủ dài để có thể xác định áp suất trong chai không bị giảm và độ kín khí được đảm bảo.

Phụ lục D nêu ra một phương pháp tiêu biểu để tiến hành phép thử. Bất kỳ chai nào không thỏa mãn các yêu cầu của phép thử này đều bị loại bỏ.

11.2. Phép thử độ dãn nở thể tích

Độ dãn nở thể tích vĩnh cửu của chai được biểu thị bằng phần trăm của tổng thể tích dãn nở ở áp suất thử và không được vượt quá 10%. Nếu vượt quá giá trị này thì chai phải bị loại bỏ.

Phụ lục E nêu ra một phương pháp tiêu biểu để tiến hành phép thử và đưa ra các chi tiết để xác định độ dãn nở của các chai đựng khí bằng thép hàn.

  1. Sửa chữa chai

12.1. Sửa chữa các vết rỗ

Nếu trong quá trình thử áp lực hoặc kiểm tra bề ngoài bằng mắt mà phát hiện các lỗ rò rỉ trên mối hàn, nếu được thanh tra cho phép, chúng có thể được sửa chữa lại bằng cách hàn. Không được dung các phương pháp khác để sửa chữa các mối hàn chịu áp lực.

12.2. Các sửa chữa khác

Tất cả các sửa chữa lớn khác kể cả hàn đắp các vết lõm, thay các (vòng) vành chân và các tấm chắn có thể được thực hiện nếu việc sửa chữa này không làm tổn hại đến tính vẹn toàn của chai. Tất cả các sản phẩm ăn mòn phải được làm sạch trước khi sửa chữa.

12.3. Các yêu cầu về sửa chữa

12.3.1. Các sửa chữa lớn như đã định nghĩa trong 12.1 và 12.2 phải do người sửa chữa có đủ năng lực được cấp giấy phép thực hiện. Sau mỗi lần sửa chữa như vậy phải tiến hành nhiệt luyện ủ khử ứng suất/ thường hóa. Sau cùng chai phải được thử lại như đã quy định trong TCVN 6292 : 1997 (ISO 4706).

12.3.2. Các sửa chữa nhỏ như làm lại tấm chắn bị hỏng, các tai để khiêng…không liên quan đến hàn hay gia công nóng trên các phần chị áp lực có thể được tiến hành nhưng phải đảm bảo tính vẹn toàn của chai không bị ảnh hưởng.

  1. Kiểm tra van

Van sử dụng phải được kiểm tra và bảo dưỡng sao cho nó có thể làm việc tốt và kín không bị rò rỉ theo ISO 1997: 1) (xem điều 2).

Quá trình thử tiêu biểu được nêu trong phụ lục F.

  1. Các thao tác cuối cùng

14.1. Làm khô và làm sạch

Phần trong của từng chai phải được làm khô cẩn thận.

Phần trong của chai phải được kiểm tra ngay sau khi thử thủy lực để đảm bảo rằng nó là khô và không có chất bẩn. Bất kỳ chất bẩn nào cũng phải được làm bằng 1 phương pháp thích hợp.

14.2. Lắp van vào chai

Van được lắp vào chai bằng các dụng cụ thích hợp và độ vặn tối ưu cần thiết đảm bảo độ chắc chắn và kín khít giữa van và chai.

Lực vặn được xác định theo kích cỡ, hình dạng và độ xiên của các đường ren, cũng như vật liệu làm van và vật liệu gắn được sử dụng.

Phải vặn đủ số lượng ren đúng theo yêu cầu. Có thể dung chìa vặn để vặn chặt theo kiểu ren thích hợp.

14.3. Ghi thời gian cho đợt thử tới

Thời gian của đợt thử tới được ghi bằng một phương pháp thích hợp. Mã hiệu viết trên một tấm được gắn giữa van và chai chỉ ra thời gian (năm) của đợt kiểm tra và thử lần tới được nêu trong phụ lục G.

14.4. Ghi nhãn

Sau khi hoàn thành việc kiểm tra và thử định kỳ và tháo van khỏi chai thì mỗi chai phải trải qua như sau:

a)) Khối lượng bì của chai chứa khí hóa lỏng, phải được xác định có tính đến khả năng hao hụt khối lượng chai cùng với các chi tiết được gắn vào chai và sự chênh lệch có thể có của khối lượng van. Nếu khối lượng bì xác định khác nhiều so với khối lượng được ghi trên nhãn thì khối lượng ghi trên nhãn phải gạch đi nhưng sao cho vẫn có thể đọc được và khối lượng bì mới xác định phải được ghi, một cách vĩnh cửu và hợp pháp.

Chú thích 2 – Điều này có thể áp dụng cho bất kỳ loại chai chứa khí nào.

  1. b) Chai phải được đóng dấu ngay cạnh nhãn kiểm tra/thử lần trước theo quy định quốc gia hoặc bằng:

– ký hiệu của cơ quan kiểm tra hay trạm thử;

– thời gian thử (thời gian này có thể ghi tháng và năm hay ghi năm tiếp theo với số chỉ quý của năm trong vòng tròn).

Nhãn ghi tốt nhất là chiều cao không nhỏ hơn 6 mm và trong mọi trường hợp chiều cao không được nhỏ hơn 3 mm.

Khi nhãn vòng là thích hợp thì nó sẽ được dùng. Khi không có chỗ thì nhãn có thể được đóng lên phần vai nếu như chiều dầy của nó lớn hơn chiều dầy của thành chai.

14.5. Nhận biết khí chứa trong chai

Khí chứa trong chai phải được nhận biết theo TCVN 6291 : 1997 (ISO 448) và TCVN 6293 : 1997 (ISO 32); nếu tiêu chuẩn quốc gia tương ứng yêu cầu.

14.6. Biên bản

Biên bản kiểm tra và thử phải được nơi thử giữ lại một thời gian không ngắn hơn một chu kỳ giữa các lần thử. Hồ sơ phải ghi đầy đủ thông tin để xác định tốt về chai và các kết quả của kiểm tra và thử. Khi quốc gia có quy định những thông tin nhất định phải được ghi chép thì biên bản phải tuân thủ các quy định đó. Biên bản thử có thể bao gồm các thông tin sau:

  1. a) tên chủ sở hữu;
  2. b) số chế tạo;
  3. c) ngày, tháng, năm của lần thử trước;
  4. d) tên người sản xuất;
  5. e) các đặc tính sản xuất;
  6. f) dung tích chứa nước;
  7. g) khối lượng chai/bì như đã thử, nếu áp dụng được;
  8. h) áp suất thử;
  9. i) ngày, tháng, năm kiểm tra và thử;
  10. j) các kết quả kiểm tra và thử;
  11. k) kiểm tra được thực hiện;
  12. l) các chi tiết về thay đổi hay sửa chữa đã thực hiện trên chai.
  13. Loại bỏ và phá hủy các chai không có khả năng sử dụng

Quyết định để loại bỏ một chai có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình kiểm tra và thử. Chai đã bị loại không được đưa ra sử dụng lại trong bất kỳ điều kiện nào. Nó phải được phá hủy ở trạm thử sau khi đã thỏa thuận với chủ chai hoặc do chủ chai tự phá hủy. Phải xóa bỏ các nhãn trên chai.

Mác trên chai phải được xóa bỏ.

Trước khi làm các việc sau đây phải đảm bảo chai là rỗng (xem điều 5).

Có thể sử dụng các phương pháp hủy sau đây:

  1. a) nghiền bẹp chai bằng phương tiện cơ khí;
  2. b) tạo một lỗ bất kỳ trên vai chai với diện tích 10% diện tích của vai chai hoặc trong trường hợp chai có thành mỏng thì tạo ít nhất 3 lỗ;
  3. c) cắt tự do cổ chai;
  4. d) cắt chai thành hai hay nhiều miếng;
  5. e) làm nổ chai.

PHỤ LỤC A

(Tham khảo)

KHOẢNG THỜI GIAN GIỮA CÁC LẦN KIỂM TRA VÀ THỬ ĐỊNH KỲ

Bảng A.1 nêu ra các khoảng thời gian giữa các lần kiểm tra và thử định kỳ.

Bảng A.1 – Chu kỳ của các lần kiểm tra và thử 3)

Khí chứa trong chai Chu kỳ của các lần kiểm tra và thử thủy lực (năm)
Các khí vĩnh cửu Không khí, argon, hêli, krypton neon, nitơ, oxy, xenon và các hỗn hợp của chúng 5 hoặc 101)
Oxit cacbon, khí thiên nhiên 5
Khí có thể hóa lỏng ở áp suất thấp không ăn mòn

(Tc >+700C)

Hydrocacbon halogen hóa, cycloprôpan 102)
Amoniac, butan 5
Khí có thể hóa lỏng ở áp suất cao không ăn mòn

(-100C < Tc < + 700C)

Etylen 10
Cacbon dioxit, nitơ oxit 5
Khí có thể hóa lỏng ở áp suất cao có tính ăn mòn

(-100C < Tc < + 700C)

Khí clo, hydro clorua, hydro florua. 2
1) Đối với không khí, oxi và các hỗn hợp của chúng thì chu kỳ thử lại kéo dài 10 năm chỉ được áp dụng nếu không có độ ẩm tự do trong tất cả các điều kiện vận hành. Nếu không thì chu kỳ thử lại phải là 5 năm.

2) Đối với các chai chứa floruacacbon dùng để dập lửa thì chu kỳ thử lại có thể là 20 năm với điều kiện chúng được kiểm tra bề ngoài hàng năm. Nếu chai bị giảm 3% khối lượng thì phải được kiểm tra lại.

3) Các chu kỳ này được phép khác với các chu kỳ quy định trong TCVN 6153 : 1996.

 

PHỤ LỤC B

(Tham khảo)

QUY TRÌNH ĐƯỢC CHẤP NHẬN KHI CÓ NGHI NGỜ VAN CHAI BỊ TẮC

B.1. Nếu có bất kỳ sự nghi ngờ nào khi van của chai mở mà khí không thoát ra và chai vẫn còn chứa lượng khí còn lại dưới áp suất thì phải tiến hành kiểm tra kỹ để xác định rằng việc chuyển khí qua van là không bị tắc.

Phương pháp được chấp nhận phải là một quy trình được thừa nhận giống như một trong các quy trình sau hoặc một quy trình có độ an toàn tương đương.

  1. a) nạp khí vào chai đến áp suất 5 bar và kiểm tra khả năng xả của van;
  2. b) dùng thiết bị như trên hình B.1 để bơm khí nitơ bằng tay vào chai;
  3. c) đối với các chai chứa khí có thể hóa lỏng thì phải kiểm tra xem tổng khối lượng của chai có đúng như khối lượng bì ghi trên chai hay không. Nếu có sự thay đổi dương thì chai có thể chứa khí đã hóa lỏng dưới áp suất hoặc các chất bẩn.

B.2. Khi đã xác định rằng van của chai không bị tắc thì van có thể được tháo ra.

B.3. Khi van bị tắc hoặc bị hư hỏng hay không hoạt động thì xếp chai ra một chỗ để kiểm tra sửa chữa như sau:

  1. a) đóng mở nhiều lần hoặc thông van cho đến khi có sự thông khí giữa cuống thân van và vòi ra;
  2. b) nới hoặc mở thiết bị an toàn bằng các phương pháp điều khiển.

Các phương pháp này áp dụng cho các chai chứa khí không độc, không bắt lửa và khí không có CFC.

Cần phải chú ý các biện pháp an toàn thích hợp để đảm bảo không có hậu quả đáng kể do xả bất kỳ một lượng khí còn lại nào khi không điều khiển được.

Nếu chai chứa khí độc hay khí dễ cháy thì phải dùng phương pháp lắp mũ chụp vào van chai, sau đó vặn mở van từ từ. Thiết bị sử dụng để kiểm tra van chai chứa khí độc hoặc khí dễ cháy được nêu trên hình B.2.

Các quy định này phải do người đã được đào tạo thực hiện. Khi khí đã được tháo ra và áp suất trong chai đã giảm xuống bằng áp suất khí quyển và trong trường hợp các khí đã được hóa lỏng khi không có giọt sương hoặc khói đọng thành giọt ở bên ngoài chai thì có thể tháo van ra được.

Hình B.1 – Thiết bị để phát hiện van bị tắc

Hình B.2 – Thiết bị tiêu biểu để tháo van bị hư hỏng hoặc tắc

 

PHỤ LỤC C

(Tham khảo)

MIÊU TẢ VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC KHUYẾT TẬT VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ LOẠI BỎ CÁC CHAI CHỨA KHÍ BẰNG THÉP CÁCBON HÀN KHI KIỂM TRA BẰNG MẮT.

C.1. Quy định chung

Các khuyết tật của chai chứa khí có thể là những khuyết tật vật lý, vật liệu hay do ăn mòn dưới tác động của môi trường hoặc các điều kiện vận hành chai gặp phải trong quá trình hoạt động của nó.

Mục đích của phụ lục này những hướng dẫn chung cho người sử dụng chai chứa khí trong việc áp dụng các tiêu chuẩn loại bỏ. Đặc biệt cho những người ít kinh nghiệm sử dụng chai chứa khí.

Phụ lục này áp dụng cho tất cả các loại chai, nhưng đối với các chai chứa khí có tính chất đặc biệt thì yêu cầu kiểm tra có thể thay đổi cho phù hợp.

Bất kỳ khuyết tật nào có dạng rãnh sắc phải được loại bỏ bằng cách mài, bào hay các phương pháp được phê duyệt khác.

Sau mỗi lần sửa chữa như vậy phải kiểm tra chiều dầy thành chai, ví dụ bằng siêu âm, để đảm bảo rằng vẫn giữ được chiều dầy thiết kế tối thiểu của thành chai.

C.2. Các khuyết tật vật lý hay vật liệu

Đánh giá các khuyết tật vật lý hay vật liệu của chai phải tuân theo bảng C.1.

C.3. Ăn mòn

C.3.1. Quy định chung

Việc đánh giá các chai đã bị ăn mòn trong hoặc ngoài có còn an toàn và thích hợp để tiếp tục sử dụng hay không đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và cân nhắc cẩn thận.

Điều quan trọng là bề mặt của kim loại phải được làm sạch hoàn toàn khỏi các sản phẩm ăn mòn trước khi kiểm tra chai.

C.3.2. Các dạng ăn mòn

Các dạng ăn mòn nói chung có thể phân chia như sau:

  1. a) các ăn mòn bề mặt (xem hình C.1) là ăn mòn mà kích thước tuyến tính nhỏ nhất lớn hơn chiều sâu của nó. Nó được gây ra do tiếp xúc với chất ăn mòn. Ăn mòn hố sâu với mật độ lớn hơn một hố trên 500 mm2 bề mặt được gọi là ăn mòn bề mặt;
  2. b) ăn mòn rãnh (xem hình C.2) là một dạng tập trung của ăn mòn bề mặt do kim loại tiếp xúc theo đường với chất ăn mòn gây ra.
  3. c) các hố ăn mòn biệt lập (xem hình C.3) hay các vùng ăn mòn cục bộ các kích thước tuyến tính lớn bằng hoặc nhỏ hơn chiều sâu của chúng.

C.3.3. Đánh giá ăn mòn

Một quy trình nên áp dụng để đánh giá mức độ ăn mòn của chai được nêu trong C.3.3.1 đến C.3.3.3

C.3.3.1. Nếu như đáy của khuyết tật có thể nhìn thấy thì với sự phán xét và kinh nghiệm có thể đánh giá khuyết tật đó có thể cho qua hay không. Giới hạn ghi trong C.3.4.1 đến C.3.4.3 được dùng như quy định chuẩn đối với chiều dầy thành chai cho phép.

C.3.3.2. Nếu như khuyết tật nằm ở ranh giới giữa các loại hay có đặc điểm không dứt khoát thì chai phải được xếp riêng ra để kiểm tra kỹ hơn, có thể sử dụng các thiết bị đặc biệt nếu cần thiết.

C.3.3.3. Khi đáy của khuyết tật không nhìn thấy, và khi phạm vi của nó không đánh giá được bằng các thiết bị đặc biệt thì chai phải được phá hủy theo điều 14.

C.3.4. Các giới hạn loại bỏ

Nếu các khuyết tật vượt qua các khuyết tật được miêu tả trong C.3.4.1 đến C.3.4.3 thì phải loại bỏ chai.

C.3.4.1. Các hố biệt lập

Các hố phân tán có đường kính lớn hơn 5 mm phải có độ sâu không vượt quá 15% chiều dầy nguyên sinh của thành chai. Các hố có đường kính nhỏ hơn 5 mm phải được đánh giá càng sát thực tế càng tốt để đảm bảo rằng chiều dầy thành chai còn lại là thỏa mãn để chai làm việc.

C.3.4.2. Ăn mòn bề mặt

Nếu chiều sâu của ăn mòn xuyên thấu vượt quá 15% chiều dầy thành chai nguyên sinh hay nếu bề mặt kim loại nguyên sinh không nhận ra được thì chai phải được loại bỏ. Nếu ăn mòn nằm ở ranh giới giữa bề mặt và chiều sâu thì có thể dùng phép thử độ dãn nở thể tích bằng thủy lực và độ dãn nở thể tích vĩnh cửu không vượt quá 2% dộ dãn nở thể tích tổng.

C.3.4.3. Ăn mòn rãnh

Nếu tổng chiều sâu của sự ăn mòn trong bất kỳ trường hợp nào vượt quá chu vi của chai và chiều sâu ăn mòn xuyên thấu vượt quá 10% chiều dầy nguyên sinh của thành chai thì phải bị loại bỏ.