TCVN 6102:1996 ISO 7202:1987 PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY – CHẤT CHỮA CHÁY – BỘT


Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng:

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 6102:1996

ISO 7202:1987

PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY – CHẤT CHỮA CHÁY – BỘT
Fire protection – Fire extinguishing media – Powder

 

Li nói đầu

TCVN 6102: 1996 hoàn tương đương với ISO 7202: 1987.

TCVN 6102: 1996 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC 21 Thiết bị phòng cháy chữa cháy biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành.

Li giới thiệu

Tiêu chuẩn này là một trong những quy định về đặc điểm kỹ thuật của những chất chữa cháy thông dụng và cần được xác định cho mục đích dập tắt lửa. Những đặc điểm kỹ thuật này được xác định để chứng minh rằng chất chữa cháy đang đề cập ít nhất cũng có khả năng hữu ích tối thiểu về dập tắt lửa và do đó có thể bán để chữa cháy.

Những yêu cầu đối với chất dùng cho các thiết bị riêng rẽ là đối tượng của các tiêu chuẩn được xây dựng sau này.

Các phụ lục A và B cung cấp những thông tin quan trọng và những điểm cần lưu ý trong việc sử dụng bột chữa cháy mà mọi người có liên quan đều phải đọc kỹ. Tuy nhiên các phụ lục ấy không phải là các diều quy định của tiêu chuẩn này.

  1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định những yêu cầu về tính chất vật lý, hoá học về hiệu suất tối thiểu được xác định bằng phương pháp thử nghiệm của các loại bột thích hợp cho việc dập tắt các loại đám cháy A, loại đám cháy B và loại đám cháy C. Yêu cầu về thông tin và công bố số liệu cũng được đặt ra đối với nhà chế tạo.

Tiêu chuẩn này không áp dụng cho bột chữa cháy đặt biệt chỉ được chỉ định để kiềm chế và dập tắt các loaị đám cháy D (kim loại).

Chú thích – Phân loại các đám cháy theo TCVN 4878 :89 (ISO 3914).

  1. Tiêu chuẩn trích dẫn

ISO 2591 Kiểm tra bằng rây;

ISO 3130 Gỗ – Xác định độ ẩm cho các thử nghiệm cơ, lý;

ISO 3310 – Kiểm tra bằng rây – Yêu cầu kỹ thuật và thử ngiệm – Phần 1: kiểm tra bằng rây tấm lưới kim loại;

ISO 3914 – Phân loại các đám cháy;

ISO 4788 Dụng cụ thí nghiệm bằng thuỷ tinh – ống đong hình trụ có chia độ.

  1. Định nghĩa

Những định nghĩa sau đây được sử dụng trong tiêu chuẩn này :

3.1. Bột chữa cháy (extinguishing powder)

Chất chữa cháy được trộn bằng những hoá chất rắn, tán mịn, gồm một hoặc nhiều thành phần chủ yếu kết hợp với các chất phụ gia nhằm hoàn thiện các đặc tính của nó.

Khi cần biểu thị một loại bột đặc biệt chỉ được chỉ định để chữa loại đám cháy nào thì thêm chữ hoa vào sau thuật ngữ bột. Những chữ hao sử dụng trong tiêu chuẩn này theo TCVN 4878: 89 (ISO 3914).

Thí dụ “Bột BC” được chỉ định để dập tắt các loại đám cháy B (các chất lỏng hoặc chất rắn có thể hoá lỏng) và loại đám cháy C (chất khí); “ Bột ABC” được chỉ định để dập các loại đám cháy A (chất cháy rắn hay có tàn lửa), loại đám cháy B và loại đám cháy C.

3.2. Mẻ (batch)

Một mẻ bột là lượng bột của một lần nạp vào thiết bị xử lý mà thiết bị này đã được làm đồng nhất bằng cách đưa ra đơn vị và xử lý vật lý để cấp có thẩm quyền chấp thuận và thử nghiệm kiểm tra.

3.3. Lô (lot)

Một lô chứa một hoặc nhiều mẻ, nhưng không quá 25 T bột, được sản xuất theo một công thức, theo cùng một quy trình sản xuất trong điều kiện môi trường như nhau.

Chú thích – Bất kỳ thay đổi thực sự nào về người sản xuất, về nguồn nhiên liệu hoặc về điều kiện môi trường đều coi bột đó thuộc về một lô hàng khác.

3.4. Đặc tính được công bố (characterization statement)

Thông tin và số liệu về tính chất vật lý, hoá của bột do người sản xuất công bố.

  1. Lấy mẫu

Những mẫu dùng thử phù hợp với tiêu chuẩn này phải là những mẫu lấy theo phương pháp tiêu biểu nhất.

Khi lấy mẫu ở một lô, phải lấy không dưới 12kg bột từ một mẻ ngẫu nhiên. Khi thử một mẻ phải lấy không dưới 2,5kg bột từ một thùng chứa ngẫu nhiên. Những mẫu đồng nhất thích hợp phải đựng vào những chai riêng biệt, khô, kín, không gây phản ứng.

Khi lượng thử tương đối ít thì dùng lấy mẫu bằng kim loại dài 25mm cắm thật sâu vào bình đựng bột chữa cháy ít nhất ở 5 vị trí.

Ngoài các mẫu đó, cấp thanh tra có thẩm quyền có thể yêu cầu lấy thêm mẫu thử.

Để tránh vón cục, điều cốt yếu là nhiệt độ bột trong thùng chứa ban đầu phải không nhỏ hơn nhiệt độ không khí của môi trường khi lấy mẫu. Bình đựng mẫu không được mở khi chưa có sự cân bằng về nhiệt độ với không khí trong phòng thí nghiệm.

  1. Đặc tính và những yêu cầu

5.1. Quy định chung

Theo yêu cầu, người sản xuất phải công bố thông tin và số liệu như quy định từ 5.2 đến 5.5. Người sản xuất phải quản lý phép đo hệ thống kê đảm bảo những trị số được công bố tương đương với những trị số trung bình trong dãy trị số được gắn liền với quá trình sản xuất.

Chú thích – Trước hết, đặc tính được công bố nhằm mục đích xác nhận thông tin và cung cấp những trị số tham khảo cho các yêu cầu cho phép của 5.2, 5.2 và 5.4, nhưng cần đặc biệt chú ý 5.5.

5.2. Khối lượng riêng

Khối lượng riêng của bột được xác định theo 12.1. Sai lệch về khối lượng riêng phải trong khoảng ±0,10g/ml của trị số do người sản xuất công bố .

5.3. Phân tích bằng rây

Khi thử bằng phương pháp nói ở 12.2.1 hoặc 12.2.2, lượng bột còn lại trên rây 40µ m và rây 63µ m so với trị số được công bố được quá ±10% tổng khối lượng mẫu, và lượng bột con lại trên rây 125µ m so với trị số được công bố không quá ±5% tổng khối lượng mẫu. Phương pháp thử được công bố cùng với kết quả thử.

5.4. Thành phần hoá học

Thành phần hoá học của bột chữa cháy được công bố không cần tính đến các thành phần dưới 10% khối lượng bột chữa cháy. Tuy nhiên thành phấn hoá học được công bố phải chiếm trên 75% (m/m) tổng thành phần của bột chữa cháy. Sai lệch cho phép không được vượt quá ±10% trị số được công bố đối với loại bột chữa cháy có phần trên 50% (m/m).

Chú thích – Thí dụ, một hợp phần có trị số được công bố là 40% thì giới hạn cho phép là 36% và 44% và một hợp phần có trị số được công bố là 80% thì giới hạn cho phép là 76% và 84%.

5.5. Tính độc

Những nguyên liệu và phụ gia khác nhau dùng để xản xuất bột chữa cháy phải được công nhận là không gây độc cho con người trong những điều kiện sử dụng bình thường.

  1. Thử khả năng chữa cháy

6.1. Loại A

Bột chữa cháy được người sản xuất các nhận là thích hợp để chữa loại đám cháy A phải dập tắt được hai trong ba đám cháy thử nghiệm được mô tả ở điều 12.3.2.

6.2. Loại B

Bột chữa cháy được người sản xuất các nhận là thích hợp để chữa loại đám cháy B phải dập tắt được hai trong ba đám cháy thử nghiệm được mô tả ở điều 12.3.3.

6.3. Loại C

Bất cứ loại bột nào đáp ứng được các điều kiện 6.2 cũng được xem như có đủ khả năng dập tắt loại đám cháy C.

  1. Khả năng phun bột

Khi phun bột từ một bình chứa cháy mô tả ở 12.4, phải phun được ít nhất 85% lượng bột ra khỏi bình.

  1. Chống đóng bánh và vón cục

Khả năng chống đóng bánh và von cục của bột được xác định băng phương pháp ở 12.5. Kim của thiết bị thử phía xuyên vào mẫu thử với độ sâu trên 15mm.

  1. Tính chống hút nước

Không quan sát được bằng mắt sự hút nước của bột khi thử theo phương pháp ở 12.6

  1. Khả năng chịu nhiệt độ thấp

Khi thử theo phương pháp ở 12.7, tất cả bột phải rơi xuống đầu có nút đậy của ống thử trong vòng 5 giây.

  1. Khả năng cách điện

Bột phải có độ bền điện môi không dưới 5 KV khi đo ở phương pháp 12.8.

  1. Phương pháp thử

12.1. Khối lượng riêng (xem 5.2)

Cho 100 ± 0,1g bột vào một ống đong hình trụ bằng thuỷ tinh 250 ml, sạch, khô và có nút, phù hợp với ISO 4788, cao khoảng 320mm và có đường kính bên trong khoảng 40mm. Đậy nút chặt. Quay ống lộn đầu đuôi đủ 10 vòng, mỗi vòng khoảng 2 giây.Ngay sau vòng thứ 10, dựng ống thẳng đứng trên một mặt bằng phẳng cho bột lắng xuống trong 180 giây. Đọc thể

tích bột. Tính khối lượng riêng theo công thức:

Trong đó:

m là khối lượng bột (tức là 100g);

V là thể tích đo được.

Chú thích:

1) Hiện tượng tĩnh điện có thể gây khó khăn cho việc thử loại bột có chứa stêarat. Có thể giảm bớt trở ngại đó bằng cách thử loại bột được silicôn hoá trước đã;

2) Sau khi bảo quản lâu, khối lượng riêng có thể tăng lên.

12.2. Phân tích bằng rây (xem 5.3)

Chú thích – hai phương pháp ở 12.2.1 và 12.2.2 có thể cho kết quả khác nhau chút ít.

12.2.1. Phương pháp 1

12.2.1.1.Thiết bị

Thiết bị gồm:

  1. a) Ba chiếc rây có đương kính danh nghĩa là 125µ m, 63 125µ m và 40µ m, phù hợp với ISO3310 – 1, một cái nắp và một khay đựng. Rây 125µ m đặt trên cùng, đã đậy nắp, rây 40, 125µ m để dưới cùng, dưới rây này để khay đựng;
  2. b) Cơ cấu lắc rây, có thể làm chuyển động cả bộ rây theo hình elíp nằm ngang và cứ tới lần hành trình thứ 9 thì lại có một lần va đập từ rây dưới cùng tới rây trên cùng.

12.2.1.2.Tiến hành thử

Cân 20g bột chính xác tới ± 0,02g cho vào rây trên cùng. Lắp rây vào cơ cấu lắc và lắc trong 10 phút. Cân lượng bột còn lại trên mỗi rây và ghi lại số phần trăm lượng bột còn lại trên mỗi rây so với khối lượng mẫu ban đầu.

12.2.2. Phương pháp 2

12.2.2.1.Thiết bị

Thiết bị bao gồm:

  1. a) Bộ rây thiết bị đã tả ở 12.2.1.1;
  2. b) Thiết bị rây dùng vòi phun không khí để tạo ra một luồng không khí thổi từ trên xuống mặt rây và một luồng không khí thổi ngược lại từ một tay quay đặt bên dưới rây (xem hình 1).

12.2.2.2.Tiến hành thử

Thực hiện lần lượt ba lần kiểm tra với rây 125µ m, 63µ m và 40µ m. Tiến hành thử theo chỉ dẫn của người sản xuất thiết bị rây dùng vòi phun không khí. Dùng 20g bột mẫu và rây trong 5 phút. Ghi lại số phần trăm bột còn lại trên mỗi rây.

Hình 1- Cơ cấu rây băng phun không khí

12.3. Thử khả năng chữa cháy

12.3.1. Quy định chung

Thực hiện các phép thử ở 12.3.2 và 12.3.3 ở nhiệt độ môi trường không thấp hơn 00C và không cao hơn 300C, lấy 3kg bột chữa cháy nạp vào bình chữa cháy có dung tích danh nghĩa 3kg, theo chỉ dẫn của người sản xuất bình. Bình chữa cháy phải phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng.

Khi thử dập tắt loại đám cháy A (12.3.2) và loại đám cháy B (12.3.3) với cùng một loại bột, phải dùng kiểu bình chữa cháy giống hệt nhau.

Trước khi thử, phải đặt các bình vào vị trí làm việc bình thường không dưới 24 giờ ở nhiệt độ 20±50C và duy trì nhiệt độ ấy cho đến khi thử.

Phải chống nóng cho người phun bột. Cần có một mũ rộng vàng với tấm che mặt chống nóng, một áo dài và găng tay bằng vải cách nhiệt.

Chú ý – Cần lưu ý bảo vệ an toàn cho người tiến hành thử không để bị nguy hiểm do ngọn lửa và hít phải khói cùng khí độc vải cách nhiệt.

12.3.2. Thử chữa cháy loại đám cháy A (xem 6.1)

12.3.2.1. Vị trí thử và điều kiện môi trường

Tiến hành thử trong buồng kín của phòng thí nghiệm, ngăn gió lùa để không cản trở sự phát triển tự nhiên của đám cháy thử hay hiệu quả chữa cháy.

12.3.2.2. Dựng mô hình thử nghiệm

Mô hình thử nghiệm gồm những thanh gỗ xếp kiểu cũi đặt trên hai thanh sắt góc 63mm x 38mm hoặc giá đỡ thích hợp, kê trên bốn trụ bê tông cao 405mm so với mặt sàn. Những thanh gỗ xếp ở rìa cũi phải buộc hoặc đóng đinh vào nhau cho chắc.

Dùng gỗ thuộc loài, phân loài hay gỗ lai các chi cây thông, hoặc cây linh sam hoặc loài ẩn hạt chế thành những thành dài 651±10mm, mặt cắt vuông, mỗi cạnh mm, độ ẩm từ 9% đến13% (m/m) và khối lượng riêng 500±50kg/m3.

Xếp các thanh gỗ làm 13 lớp, mỗi lớp 6 thanh, lớp trên vuông góc với lớp dưới. Từng thanh của mỗi lớp cách đều nhau xếp thành hình vuông, mỗi cạnh bằng chiều dài của thanh gỗ (xem hình 2).

Chú thích – Để xác định độ ẩm của các thanh gỗ có thể sử dụng thương mại để đo độ dẫn điện giữa hai đầu dò hình kim cắm vào các thanh gỗ. Số đo có thể khác nhau do kết cấu gỗ khác nhau và đo chiều của thớ gỗ.

Trường hợp chưa chắc chắn thì hiệu chỉnh dụng cụ xác định độ ẩm phù hợp với ISO 3130.

Hình 2- Mô hình điển hình dùng để thử nghiệm loại đám cháy A

12.3.2.3. Mồi lửa

Đặt một cái khay để đốt lửa kích thước 686mm x 102mm vào giữa và đối xứng ở bên dưới cũi gỗ.

Đổ 3,8 lít nhiên liệu (theo 12.3.3.2 ) vào khay. Châm lửa vào nhiên liệu. Khi nhiên liệu chảy hết thì chuyển khay đi. Để cũi gỗ cháy cho tới khi những thanh gỗ ở trên cùng còn lõi có đường kính từ 19 đến 25mm chưa cháy mới phun bột.

12.3.2.4. Phun bột

Lấy bình chữa cháy phun bột vào đám cháy. Ban đầu phun vào phía trước từ khoảng cách không dưới 1,8m. Giảm khoảng cách tấn công và có thể tuỳ ý phun từ tren xuống, từ đáy lên hoặc bất kỳ cạnh nào trừ phía sau của cũi gỗ. Giữ khoá ở vị trí mở để dòng bột phun ra tối đa.

12.3.2.5. Điều kiện để công nhận dập tắt có kết quả

Thử được coi là đạt kết quả khi ngon lửa bị dập tắt hoàn toàn, cũi gỗ ở trạng thái không tự cháy lại hoặc không cháy âm ỉ ở những điều kiện thử trong khoảng thời gian 15 phút.

12.3.3. Thử chữa cháy loại đám cháy B (xem 6.2)

12.3.3.1. Vị trí và điều kiện môi trường

Có thể thử trong nhà hoặc ngoài trời khi có tốc độ gió không dưới 1m/s và không quá 3m/s.

12.3.3.2. Nhiên liệu hay khay

Dùng 55 lít nhiên liệu loại cacbon hydro mạch thẳng có nhiệt độ sôi đầu không dưới 800C và nhiệt độ sôi cuối không trên 1050C.

Dùng khay bằng thép dầy 2,5mm, có đường kính 1,48m sâu 150mm và có mặt thoáng nhiên liệu là 1,73m2.

12.3.3.3.

Đặt khay nằm ngang, bằng phẳng với mặt đất xung quanh. Đổ nhiên liệu vào. Để tránh hậu quả do khuyết tật của khay gây ra, cần đổ thêm nhiên liệu sao cho có độ sâu tối thiểu 15mm ở tất cả các điểm của khay, nhưng không quá 50mm ở bất cứ điểm nào trên chu vi khay.

1) Như vậy phải cháy từ 6 đến 10 phút. Nếu cần hãy thử sơ bộ để xác định thời gian cho đúng. Nơi nào xác định liên tục được bằng khối lượng cũi gỗ thì có thể lấy thời gian khi khối lượng đó giảm xuống còn 60% khối lượng ban đầu.

12.3.3.4. Phun bột

Châm lửa cho nhiên liệu cháy tự do ít nhất 60 giây. Phun bột vào đám cháy. Lúc đầu, người phun bột không được đứng cách khay dưới 1,5 m. Người phun có thể di chuyển quanh đám cháy ở bất kỳ cự ly nào để đạt kết quả tốt nhất. Có thể tuỳ ý phun liên tục hoặc không được bước lên thành khay hoặc bước vào trong khay.

12.3.3.5. Điều kiện để công nhận dập tắt có kết quả

Việc thử được coi là đạt kết quả khi toàn bộ ngọn lửa đều được dập tắt.

12.4. Thử khả năng phun bột (xem điều 7)

12.4.1. Thiết bị

12.4.1.1. Bình chữa cháy dùng để thử

Một bình bột chữa cháy có các thông số kỹ thuật sau: Dung tích danh nghĩa: 2,25kg

khí đẩy (CO2): 40g

chiều dài bên trong bình chứa: 375mm

đường kính bên trong bình chứa: 90mm

đường kính bên trong vòi phun: 10mm

đường kính lăng phun: 4,25mm

Bình phải như vẽ trong các hình 3, 4 và 5.

12.4.1.2. Máy va đập dùng để gây va đập liên tiếp, nhiều lần vào bình bột bằng cách để bình rơi từ độ cao 25mm ± 1,5mm xuống một bề mặt rắn.

Thực hiện cho rơi bình phải được hướng dẫn và phải có gia tốc xấp xỉ gia tốc rơi tự do.

Hình 4 – Đầu lăng bình bột chữa cháy có chai khí đẩy vẽ ở hình 3

Hình 5 – Vòng đệm đầu lăng bình chữa cháy vẽ ở hình 3

12.4.2. Tiến hành thử

Nạp vào bình 2250 x dK ± 10g bột dùng để thử (khối lượng bột ban đầu m1), trong đó dK là khối lượng riêng của bột đã xác định theo phương pháp ở 12.1.

Lắp chai khi đẩy chưa nạp tiền khí vào đầu bình, vặn chặt đầu bình. Để bình lên máy va đập (xem 12.4.1.2) và va đập 250 lần với tốc độ 25 lần/phút (tức là với tần số 0,417Hz trong 10 phút). Va đập xong tháo đầu bình ra, để bình vào lò có điều chỉnh nhiệt độ ở 49 ± 10C trong 8 giờ.

Đem bình từ lò ra và thay ngay chai khí đẩy chưa nạp bằng chai đã nạp 40 ± 4g khí CO2. Vặn chặt đầu bình và đâm thủng chai khí đẩy. Chờ 5 giây để tăng áp sau đó phun bột trong bình nhanh với mức có thể. Cân lại bình (để có khối lượng bột còn lại m2). Tỷ lệ phần trăm bột đã phun tính theo công thức:

trong đó

m1 là khối lượng bột ban đầu

m2 là khối lượng bột còn lại

Thử ba lần rồi lấy tỷ lệ phần trăm trung bình để báo cáo kết quả lượng bột phun ra.

12.5. Thử chống đóng bánh và vón cục (xem điều 8)

12.5.1. Thiết bị

Thiết bị xuyên sâu gồm một xuyên độ kế có một kim kẹp trong giá đỡ có thể xuyên thẳng đứng với lực ma sát không đáng kể và có khả năng chỉ độ chuyên sâu chính xác tới 0,01 đến 1,02mm, một đầu được mài thành hình nón đều với một góc trong khoảng 8,70 đến 9,70. Hình nón phải đồng trục với phần thẳng của thân kim. Tổng biến thiên hướng trục của chỗ giao nhau giữa các bề mặt hình nón và thẳng không được vượt quá 0,2mm. Mũi kim cụt, có đường kính trong giới hạn 0,14mm và 0,16µ m và thẳng góc với trục kim trong vòng 20. Rìa của mũi kim phải sắc và nhẵn. Trung bình cộng của độ nhám bề mặt cực đại của bề mặt hình nón từ 0,2 đến 0,3µ m.

Kim được lắp vào cán bằng thép không gỉ, chiều dài lộ ra từ 40 đến 45mm. Cán có đường kính 3,2 ± 0,05mm, dài 38 ± 1mm. Kim phải lắp cứng vào cán. Khối lượng cả kim và cán là 2,50 ± 0,05 g.

Chú thích – Xuyên độ kế thích hợp được mô tả trong ISO 2137.

12.5.2. Chuẩn bị mẫu thử

Dùng hai cốc niken có dạng nối nấu kim loại, dung tích 100ml, cao 64mm, đường kính miệng 69mm. Đổ vào mỗi cốc 125g bột mẫu. Đặt hai cốc lên lắc rồi rung cho tới khi khối lượng riêng của bột không tăng được nữa, nhưng ít nhất cũng không dưới quá 5 phút.

Cho các mẫu vào trong máy làm ẩm bằng luồng không khí di động ở nhiệt độ 21 ± 30C và độ ẩm tương đối là 78% trong 24 giờ, tiếp đó chuyển sang lò sấy ở 48 ± 30C trong 24 giờ nữa.

Chú thích – Tình trạng không khí ứ đọng trong các bình khử ẩm thường dùng bằng dung dịch bảo hoà không thể cho những kết quả nhất quán được. Vì vậy nếu dùng bình khử ẩm để làm thiết bị tạo ẩm thì cần chú ý bảo đảm việc lưu thông không khí. Một bình khử ẩm đường kính 250mm có dung dịch NH4Cl bão hoà để ở ngăn dưới có thể dùng vào việc này. Trong khi thử, hãy cho không khí lưu thông với lưu lượng 5lít/phút. Làm bảo hoà không khí trước bằng cách sục khí qua một dung dịch NH4Cl bão hoà và đưa vào bình khử ẩm bằng một ống ở giữa có đường kính trong 6mm, đoạn 20mm cuối cùng nhô lên trên ở giữa đĩa bình khử ẩm. Từng lúc kiểm tra độ ẩm tương đối của luồng không khí thoát ra bằng những phương tiện thích hợp.

12.5.3. Tiến hành thử

Làm theo chỉ dẫn của người sản xuất về vận hành thiết bị xuyên sâu. Đối với hai mẫu bột, lấy của mỗi mẫu ba giá trị đọc. Xác định số trung bình và báo cáo độ xuyên sâu.

12.6. Thử tính chống hút nước (xem điều 9)

Cho nhiều bột vào một đĩa Petri, đường kính khoảng 70mm. Dùng dao trộn san bằng phẳng mặt bột. Nhỏ vào ba chỗ khác nhau trên mặt bột mỗi chỗ một giọt nước cất (khoảng 0,3 ml).

Để đĩa petri vào trong bình khử ẩm có dung dịch muối ăn bão hòa ở 20 ± 50C để (khoảng 75% độ ẩm tương đối) trong 60 phút. Lấy đĩa từ bình khử ẩm ra, nghiêng đĩa từ từ để các giọt nước lặn đi chỗ khác. Quan sát bằng mắt thấy bột không thấm nước chứng tỏ bột có tính hút nước thích hợp.

12.7. Thử khả năng chịu nhiệt độ thấp (xem điều 10)

Cho khoảng 20g bột vào một ống thử bằng thuỷ tinh có nút, sạch, khô, kích thước khoảng 20mm x 150mm. Để ống vào buồng lạnh ở (- 550C) trong 1 giờ. Lấy ống ra, không mở nút và dốc ngược ống. Trong vòng 5 giây, nếu bột rơi hết xuống nút là bột có khả năng chịu nhiệt độ thấp.

12.8. Thử khả năng cách nhiệt ( xem điều 11)

12.8.1. Thiết bị

Một cóc thử đại thể như hình 6, được lắp chặt hai điện cực song song, đồng trục nằm ngang mà kết cấu của nó ở bất cứ điểm nào cách các đĩa điện cực thử không dưới 13mm. Cốc làm bằng vật liệu có độ bền điện môi cao và chống hút ẩm tốt.

Đỉnh cốc cao hơn đỉnh các điện cực ít nhất 32mm. Cốc được chế tạo để có thể dễ dàng tháo điện cực ra lau chùi và đánh bóng, chịu được phương pháp thử ở 12.8.2 và dễ hiệu chỉnh khoảng cách phóng điện. Điện cực là những chi tiết hình đĩa bằng đồng thau đã đánh bóng, đường kính 25mm, dầy ít nhất 3mm, cạnh rìa thẳng góc với mặt đĩa. Khoảng cách giữa hai điện cực là 2,5±0,01mm.

Một máy biến áp, được tiếp điện từ một nguồn điện áp thấp, có điện áp ra liên tục thay đổi được tới trên 5kW.

12.8.2. Tiến hành thử

Đổ đầy bột vào cốc thử và lèn chặt bột bằng cách cho cốc rơi 500 lần với tần số 1Hz từ độ cao 15mm. Dùng máy va đập nói ở 12.4.1.2 vào việc này là thuận tiện. Khi đập, nếu muốn, có thể để cốc vào trong một cái hộp thích hợp để bảo vệ cốc. Dùng máy biện áp tác động một điện áp vào 2 cực rồi tăng áp lên đều đều cho đến khi xẩy ra đâm xuyên tức là phóng điện liên tục giữa 2 điện cực. Ghi lại điện áp phá vỡ độ bền điện môi.

  1. Ghi nhãn và đóng gói

Trong mọi trường hợp có thể, người sản xuất hoặc người cung cấp phải viết lên trên mỗi kiện hàng riêng biệt (hoặc trên một tấm nhãn gắn chặt vào kiện hàng) những thông tin dưới đây:

  1. a) Tên thương mại của sản phẩm, tiếp đến là những chữ “bột chữa cháy”;
  2. b) Một thông tin ngắn gọn nói rằng: sản phẩm tuân thủ tiêu chuẩn này và thích hợp với loại đám cháy nào, chẳng hạn: “Phù hợp với TCVN …….., chữa được các loại đám cháy A,B và C”;
  3. c) Năm sản phẩm;
  4. d) Những chỉ dẫn thiết yếu về điều kiện bảo quản;
  5. e) Tên và địa chỉ của người hoặc đơn vị chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn này – có thể đó là người sản xuất, người phân phối hoặc cung cấp;
  6. f) Thông báo “Bảo đảm sản phẩm này thích ứng với thiết bị sử dụng nó”.

Chú thích – Bột chữa cháy phải đựng trong các thùng chủ yếu là chống được ẩm và chống va đập. Người cung cấp phải đảm bảo đóng hàng theo đúng chỉ dẫn của người sản xuất nhằm giữ những đặc tính chủ yếu của bột khi để trong kho cũng như khi sử dụng.

Hình 6 – Cốc thử nghiệm tính dẫn điện

 

PHỤ LỤC A

(Tham khảo)

Tính tương hợp giữa bột và bọt chữa cháy

Trong vài trường hợp, bột và trường hợp có thể không tương hợp. Người sử dụng cần biết chắc chắn rằng, bất cứ sự sử dụng kết hợp giữa bột và bọt chữa cháy sẽ không dẫn đến mất hiệu quả chữa cháy đáng tiếc do tác động qua lại bất lợi giữa chúng với nhau khi phun đồng thời hoặc nối tiếp nhau.

PHỤ LỤC B

(tham khảo)

Tính tương hợp và tính tương đương của bột chữa cháy trong thiết bị

Tiêu chuẩn này không đánh giá hiệu quả của bột chữa cháy sùng với thiết bị đặc biệt, cũng không có ý định so sánh hiệu quả của các loại bột chữa cháy khác nhau.

Những thử nghiệm trong điều 6 chỉ nằm xác định chất lượng của bột có cao hơn mức tối thiểu có thể chấp nhận hay không và không gợi ý rằng có thể dùng các thử nghiệm ấy để so sánh hiệu quả chữa cháy của các loại bột chữa cháy khác nhau.

Điều quan trọng là một loại bột thoả mãn cá yêu cầu tiêu chuẩn này, muốn được sử dụng cho thiết bị chữa cháy đặc biệt thì vẫn phải thử nghiệm như quy định của tiêu chuẩn này hoặc tiêu chuẩn khác có liên quan để đảm bảo hiệu quả chữa cháy.

TCVN 6102:1996  ISO 7202:1987 PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY – CHẤT CHỮA CHÁY - BỘT
607.4 KiB
222 Downloads
Chi tiết
Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng: