TCVN 5687 : 1992 THÔNG GIÓ, ĐIỀU TIẾT KHÔNG KHÍ, SƯỞI ẤM – TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ


TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 5687 : 1992

THÔNG GIÓ, ĐIỀU TIẾT KHÔNG KHÍ, SƯỞI ẤM – TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ
Ventilating, air-conditioning, heating – Design standard

  1. Quy định chung

1.1 Tiêu chuẩn này áp dụng để thiết kế thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm cho các công trình xây dựng mới và cải tạo.

1.2 Tiêu chuẩn này không áp dụng. a. Cho các loại.

– Nhà và công trình thí nghiệm, hoặc các công trình đặc biệt

– Nhà và công trình chuyên dụng (hầm ngầm, có chất nổ, chất phóng xạ…);

– Các công trình khai thác mỏ ngầm;

– Các nhà và công trình sử dụng ngắn hạn (hoặc theo mùa);

  1. Để thiết kế các hệ thống thông gió nhằm chống khói cho nhà và công trình khi bị cháy;
  2. Để thiết kế các hệ thống điều tiết không khí, làm mát, làm nóng dùng trong thiết bị công nghệ và thiết bị điện (hệ thống hút bụi vệ sinh), quét dọn nhà và thiết bị, hệ thống sấy khô, làm lạnh, khử bụi cho vật liệu và thành phẩm, hệ thống vận chuyển thành phẩm và chất thải công nghiệp, hệ thống thổi gió làm mát động cơ cùng thiết bị điện v.v…);
  3. Để thiết kế các chụp che chắn thiết bị công nghệ hoặc các phần công đoạn công nghệ (tại những vùng phát sinh ra chất độc hại trong sản xuất) đầu nối vào các hệ thống tải gió cục bộ.

1.3 Tiêu chuẩn này quy định những giải pháp kĩ thuật nhằm đảm bảo cả những tiêu chuẩn vệ sinh, phòng chống cháy và kĩ thuật an toàn cần phải được tuân thủ trong khâu thiết kế thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm cho nhà và công trình.

1.4 Khi thiết kế các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm cần phải tổ hợp một cách hợp lí các giải pháp công nghệ và các giải pháp kết cấu kiến trúc, nhằm đảm bảo yêu cầu vệ sinh, tiêu chuẩn kĩ thuật và tiết kiệm, kinh tế.

1.5 Thiết bị, đường ống, ống dẫn gió đặt trong các gian xưởng có môi trường ăn mòn, cũng như các thiết bị vận chuyển không khí có khí, bụi, hơi ăn mòn phải được làm từ vật liệu chống ăn mòn hoặc được phủ lớp bảo vệ chống ăn mòn.

Đối với bình dãn nở, hoặc các thùng, bể chứa nước dạng khác cần có lớp bảo vệ chống ăn mòn cả bên trong và bên ngoài.

1.6 Loại động cơ dùng cho các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm cần được chọn phù hợp với các yêu cầu của phần thiết kế cấp điện xí nghiệp, nhà và công trình hoặc ghi rõ trong phần thiết kế này.

1.7 Đối với nhà và gian sản xuất nhóm A, B, C và F và nhà công cộng cần tạo điều kiện cắt từ bảng điều khiển, tủ điều khiển hay từ nút bấm các hệ thống thông gió cơ khí,

điều tiết không khí hay sưởi ấm bằng không khí trong các phòng đang xảy ra hỏa hoạn, trừ những hệ thống cấp gió vào phòng đệm của gian sản xuất nhóm A, B và F là các hệ thống không ngừng cấp gió khi có hỏa hoạn.

Đối với nhà và gian sản xuất nhóm C cho phép chỉ cắt những hệ thống phục vụ những dây chuyền riêng rẽ hoặc những vùng có diện tích không dưới 2500 m2 ở những phòng có diện tích lớn hơn.

Đối với nhà, công trình và gian sản xuất có thiết bị báo cháy tự động hoặc hệ thống chữa cháy, cần đấu nối các hệ thống này với các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí để tự động cắt các hệ thống này khi hệ thống báo cháy hoặc chữa cháy hoạt động.

1.8 Trong bản thiết kế thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí cần chỉ rõ yêu cầu nối đất toàn bộ thiết bị thông gió – sưởi, điều tiết không khí, các ống dẫn gió bằng kim loại, các ống kim loại phục vụ cho những gian xưởng sản xuất A, B và

F cũng như các ống dẫn gió, các ống và các hệ thống dùng để thải chất dễ nổ từ các cơ cấu hút gió cục bộ.

  1. Bằng cách đấu hệ thống này trên toàn bộ chiều dài của nó thành một mạch liên tục;
  2. Bằng cách đấu mỗi hệ thống ít nhất ở hai điểm vào mạng nối đất của thiết bị và hệ thống chống sét theo tiêu chuẩn hiện hành.

1.9 Đối với các bề mặt nóng của đường ống, ống dẫn gió, thiết bị thông gió – sưởi điều tiết không khí, đặt tại những gian xưởng (kể cả tầng kĩ thuật), mà ở đó những mặt nóng có thể gây ra cháy hoặc nổ, thì nhất thiết phải được bọc cách nhiệt nhằm hạ nhiệt độ bề mặt lớp cách nhiệt xuống tới mức an toàn bất kể nhu cầu tận dụng nhiệt dư tỏa ra từ những bề mặt này.

1.10 Không được sử dụng thiết bị (quạt, phim lọc bụi, van khóa…) đường ống dẫn gió, bộ tiêu âm, vật liệu cách nhiệt, vật liệu đệm làm từ những sản phẩm có thể tạo ra những chất độc hại cấp 1 và cấp 2 khi có hỏa hoạn cũng như trong vận hành.

Chú thích: Nêú không có đặc trưng độc hại của vật liệu thì trước khi sử dụng trong thiết kế cần tiến hành khảo nghiệm các vật liệu này.

1.11 Bộ tiêu âm của các hệ thống thông gió, điều tiết không khí phải được làm từ vật liệu không cháy.

1.12 Các giải pháp không gian – mặt bằng nhà và công trình sản xuất thuộc nhóm A, B và F nơi có khả năng tạo thành các chất nổ và cháy (hơi, khí và bụi), cũng như nhà và công trình có nguồn độc hại và nhiệt dư bốc ra trên 20 kcal/m3.h phải được cấu tạo sao cho trong nhà không hình thành những vùng, những “túi” không thông thoáng.

1.13 Các cửa sổ, cửa trời cần được bố trí, tính toán để loại trừ hiện tượng lan truyền chất độc hại từ phòng này sang phòng khác. Các cửa này, nếu nằm trong tầm với của người phải có cơ cấu cho phép đóng mở bằng tay, ngoài những cơ cấu đóng mở cơ khí khác.

1.14 Khi thiết kế đường ống dẫn gió cùng các cơ cấu khác làm bằng vật liệu xây dựng (gạch xây.v.v…) cần dự tính các biện pháp đảm bảo độ kín của đường ống, biện pháp làm giảm độ nhám bề mặt bên trong và điều kiện làm vệ sinh khi cần.

1.15 Trong phần thiết kế xây lắp và công nghệ cần bố trí các phương tiện nâng cẩu cố định hoặc di động (ròng rọc, tời, cần trục – trong trường hợp có thiết bị lớn) tại các gian bố trí thiết bị thông gió – sưởi ấm và thiết bị lạnh, điều tiết không khí, để sửa chữa và giám định kĩ thuật những cơ cấu động của thiết bị (quạt, động cơ…) nếu trọng lượng của một đơn vị thiết bị vượt trên 50 kg.

Chú thích: Không cần dự kiến bố trí các thiết bị vận tải – nâng cẩu nếu có thể sử dụng thiết bị nâng cẩu – vận tải trong dây chuyền công nghệ của xí nghiệp, gian xưởng để phục vụ các hệ thống thông gió, sưởi ấm – điều tiết không khí.

1.16 Việc chọn hệ thống thông gió, sưởi ấm, điều tiết không khí, chọn thiết bị, kết cấu và vật liệu cho các hệ thống này cần thực hiện dựa trên nguồn vật liệu và cơ sở sản xuất của vùng, tránh việc vận chuyển vật tư thiết bị đi xa.

1.17 Trong bản thiết kế thông gió, sưởi, điều tiết không khí của nhà, xí nghiệp và công trình cần dự trù nhân lực cho vận hành, sửa chữa theo những chỉ dẫn, quy định cần dự trù nhân lực cho vận hành, sửa chữa theo những chỉ dẫn, quy định hiện hành.

1.18 Trong thiết kế thông gió, điều tiết không khí, sưởi ấm của nhà và công trình đặt trên đất lún trượt cần vạch ra những biện pháp chống ướt nền đất nằm dưới công trình bằng biện pháp tháo nước trong các mương ngầm, hố ngầm cũng như những điểm tụ nước khác.

  1. Điều kiện vi khí hậu và độ sạch của môi trường không khí trong nhà, thông số khí hậu tính toán bên ngoài nhà.

2.1 Đối với nhà ở nhà công cộng (nhà hành chính, lớp học v.v…) nhà phụ trợ trong các xí nghiệp công nghiệp hoặc nhà công nghiệp mà dây chuyền công nghệ bên trong không có yêu cầu đặc biệt về các thông số của môi trường không khí thì chủ yếu cần sử dụng các giải pháp kiến trúc và vật lí xây dựng để thiết kế kết cấu bao che nhằm giữ được nhiệt, tránh gió lạnh về mùa đông; đảm bảo thông thoáng tận dụng thông gió tự nhiên, gió xuyên phòng mùa hè, kết hợp với sử dụng quạt bàn, quạt trần… theo đúng TCVN 4605: 1988 “Nhiệt kĩ thuật kết cấu ngăn che – Tiêu chuẩn thiết kế” nhằm đảm bảo điều kiện tiện nghi môi trường trong nhà.

2.2 Trong trường hợp sử dụng những biện pháp kĩ thuật thông gió – điều tiết không khí sưởi ấm để đảm bảo tiện nghi môi trường thì các thông số vi khí hậu tiện nghi tham khảo theo phụ lục l.

Đối với nhà dân dụng, giới hạn tiện nghi vi khí hậu được quy định trong phụ lục 2.

2.3 Trong những trường hợp sử dụng thông gió và thông gió tự nhiên không thể đảm bảo được điều kiện vi khí hậu tiện nghi thì để bù vào độ gia tăng nhiệt độ môi trường cần tăng tốc độ chuyển động không khí để giữ được chỉ tiêu cảm giác nhiệt trong phạm vi cho phép. ứng với loC tăng nhiệt độ cần tăng thêm tốc độ gió 0,5 – lm/s, không nên vượt quá 3 – 4m/s đối với nhà dân dụng và 5 – 6m/s đối với nhà công nghiệp.

Giới hạn trên cho khả năng chịu đựng có thể nhận bằng t = 37,5oC với độ ẩm M =80% cho điều kiện tĩnh tại.

2.4 Điều kiện vi khí hậu tiện nghi ở phụ lục 1 ấn định cho người mặc quần áo bình thường và lưu lại trong nhà trên 2 giờ.

Khi thời gian lưu lại trong nhà ngắn hơn thì có thể tăng chỉ số nhiệt độ ở phụ lục này (ứng với mùa nóng) lên 0,40C cho mỗi một độ vượt trên 300C của nhiệt độ không khí tính toán bên ngoài (nhưng không vượt quá giới hạn tiện nghi đối với vi khí hậu tự nhiên theo phụ lục 2).

2.5 Điều kiện vi khí hậu (Nhiệt độ, độ ẩm tương đối, vận tốc gió) trong các chuồng trại chăn nuôi và trong các công trình nông nghiệp, cũng như trong các nhà bảo quản sản phẩm nông nghiệp (kho hạt, kho lạnh…) thì lấy theo các tiêu chuẩn công nghệ chuyên dụng đã được duyệt.

2.6 Điều kiện vi khí hậu ở những vị trí làm việc thường xuyên của phân xưởng có cường độ bức xạ lớn trên 300 kcal/m2.h thường chỉ có thể đảm bảo phần nào bằng biện pháp chỉ dẫn trong điều 3.l.7

2.7 Nồng độ giới hạn cho phép của các chất độc hại (hơi, khí, bụi…) trong môi trường làm việc của các gian sản xuất thuộc xí nghiệp hoặc trong các công trình khác được giới hạn theo phụ lục 4.

Ngoài giờ làm việc, cho phép không phải duy trì điều kiện vi khí hậu theo tiêu chuẩn nếu những điều này không vi phạm những tiêu chuẩn khác đã được duyệt.

2.8 Khi tính toán phân phối không khí qua hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí cần đảm bảo sao cho giá trị cực trị (tối đa hay tối thiểu) của 0 tốc độ gió Wx, nhiệt độ tx và độ ẩm không khí Mx nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh ở đoạn luồng gió nhập vào vùng làm việc hay vùng phục vụ; đối với trường hợp dòng hoa sen không khí thì tính ở vùng ngực người làm việc.

Chú thích:

  1. Nồng độ chất độc hại trong luồng không khí cấp vào nhà, xác định ở miệng cấp gió, không được vượt quá 30% nồng độ giới hạn cho phép.
  2. Vùng tác động trực tiếp của luồng được quy định là vùng phạm vi luồng có vận tốc gió từ cực đại Wx đến 0,5Wx
  3. Khi đặt cửa phân phối gió trong vùng làm việc thì nhiệt độ, độ ẩm tương đối và vận tốc bên ngoài những khu vực làm việc thường xuyên có thể không cần theo đúng tiêu chuẩn trong các trường hợp sau đây :
  4. ở khoảng cách 1m cách miệng cấp gió nếu luồng cấp nằm ngang hay nghiêng.
  5. ở khoảng cách 0,5m cách miệng cấp gió nếu luồng cấp thổi dưới lên theo phương thẳng đứng.

2.9 Khi tính toán phân phối không khí nhằm đảm bảo điều kiện vi khí hậu tại vị trí làm việc và tại vùng thường xuyên có người ngoài phạm vi tác động trực tiếp của luồng thổi thì cần lấy tốc độ 0,5Wx làm chuẩn, còn nhiệt độ và độ ẩm thì lấy bằng trung bình số học của các đại lượng này ở đoạn luồng nhập vào vùng làm việc.

chú thích: Khi thiết kế các hệ thống cần tính kĩ đến những chỉ dẫn của điều 2.8

2.10 Vùng làm việc và vùng phục vụ trong nhà ở, nhà công cộng và nhà phụ trợ không gian cao 2m cách sàn; trong không gian có người ngồi là chính (nhà hát, phòng làm việc, giảng đường…) thì có thể tính bằng 1,5m cách sàn.

Vùng làm việc trong nhà công nghiệp lấy theo các tiêu chuẩn thiết kế công nghiệp và yêu cầu công nghệ.

2.11 Thông số khí hậu tính toán bên ngoài nhà lấy theo TCVN 4088: 1985 và xử lí theo các cấp I, II, III áp dụng cho các cấp quan trọng của công trình (Phụ lục 3).

Thông số tính toán cấp I dùng để thiết kế các công trình đặc biệt quan trọng, nơi mà thời gian cho phép không đảm bảo chế độ nhiệt ẩm tính toán bên trong công trình là nhỏ (dưới 50h/năm).

Thông số tính toán cấp II dùng để thiết kế hầu hết các công trình dân dụng và công nghiệp khi thời gian cho phép không đảm bảo chế độ nhiệt ẩm tính toán bên trong công trình nằm trong khoảng 200 – 300h/năm. Các thông số này có thể dùng để tính toán các hệ thống điều tiết không khí cấp II và sưởi ấm (mùa đông).

Thông số tính toán cấp III dùng để thiết kế các công trình khi thời gian không đảm bảo chế độ nhiệt lên tới 400 – 500 h/năm.

  1. Thông gió, điều tiết không khí, sưởi ấm bằng không khí.

3.1 Các chỉ dẫn chung.

3.1.1. Hệ thống thông gió, điều tiết không khí phải được tổ chức để đảm bảo độ sạch của môi trường khí và điều kiện vi khí hậu bên trong nhà và công trình theo các tiêu chuẩn vệ sinh, công nghệ và tiện nghi.

3.1.2. Thông gió tự nhiên (kể cả thông thoáng xuyên phòng theo chu kì) cần được tổ chức, nếu không ảnh hưởng đến quá trình công nghệ, đến cảm giác nhiệt của người hoặc đến sự bảo vệ vật tư, thiết bị trong công trình.

3.1.3. Thông gió cơ khí cần được thiết kế khi những điều kiện vi khí hậu và tiêu chuẩn vệ sinh không thể được đảm bảo bằng phương tiện thông gió tự nhiên.

Trong các gian phòng có người sinh hoạt, nếu không có hệ thống điều tiết không khí, cần lắp quạt trần hoặc quạt bàn phụ trợ cho thông gió tự nhiên nếu không ảnh hưởng tới các yêu cầu công nghệ hoặc yêu cầu vệ sinh.

Chú thích: Số lượng quạt bố trí trong phòng cần được tính chọn đủ để đảm bảo yêu cầu vận tốc gió theo cảm giác nhiệt. Trong điều kiện chưa đủ số liệu tính toán , có thể chọn 1 quạt cho 16-25m2 diện tích sàn. Quạt phải có cơ cấu thay đổi vận tốc gió nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng.

Khoảng cách từ cánh quạt đến mặt sàn không nên nhỏ dưới 2,3m.

3.1.4. Thông gió hỗn hợp cơ khí và tự nhiên cần được thiết kế khi có thể và được phép sử dụng một phần thông gió tự nhiên để thải hoặc cấp không khí.

3.1.5. Điều tiết không khí cần được thiết kế để :

  1. Đảm bảo điều kiện vệ sinh và vi khí hậu theo tiêu chuẩn, khi những điều kiện trên không thể đảm bảo bằng các biện pháp thông gió cơ khí hay tự nhiên, kể cả bằng làm mát bốc hơi (quá trình đoạn nhiệt);
  2. Đảm bảo và duy trì điều kiện vi khí hậu và vệ sinh không khí trong nhà hoặc trong một phần nhà theo yêu cầu công nghệ;
  3. Đảm bảo và duy trì trong các gian sản xuất điều kiện vi khí hậu tiện nghi hoặc điều kiện trung gian giữa điều kiện tiện nghi và điều kiện cho phép ghi trong các phụ lục l, 2, nếu điều này là hợp lí về mặt kinh tế.
  4. Đảm bảo và duy trì điều kiện vi khí hậu tiện nghi và vệ sinh không khí quy định cho các nhà ở và nhà công cộng hoặc nhà phụ trợ khi có nhu cầu.

Chú thích:

  1. Nếu các quy phạm tiêu chuẩn công nghệ không ấn định thông số vi khí hậu cần đảm bảo khi thiết kế điều tiết không khí thì lấy điều kiện vi khí hậu tối ưu.
  2. Độ chính xác duy trì điều kiện vi khí hậu tiện nghi nếu không có những yêu cầu đặc biệt cần cố gắng duy trì ở mức ±10C theo nhiệt độ và ±7% theo độ ẩm (quanh vùng đặt đầu đo cảm nhiệt và ẩm).

Độ chính xác duy trì nhiệt độ tiện nghi khi sử dụng máy điều tiết không khí cục bộ hoặc bộ hòa trộn cục bộ có đầu cảm nhiệt tác động trực tiếp thì cho phép giữ ở mức ±2oC.

3.1.6. Khi nguồn bức xạ lên người có cường độ từ 150 đến 300 kcal/m2.h và diện tích mặt bức xạ trong khi làm việc trên 0,2m2 khi không đảm bảo nhiệt độ không khí theo phụ lục 1 và 2, thì vận tốc không khí có thể tăng thêm theo yêu cầu của điều 2.3.

Để đảm bảo những điều kiện vi khí hậu kể trên cho phép đặt các quạt thổi gió cục bộ.

3.1.7. Hệ thống tấm không khí cấp gió vào vị trí có người làm việc thường xuyên cần được tổ chức:

  1. Khi cường độ bức xạ trên 300 kcal/m2.h: cấp gió ngoài trời để đảm bảo các thông số môi trường (nhiệt độ và vận tốc gió) theo “Tiêu chuẩn vệ sinh thiết kế nhà công nghiệp”.
  2. Với các quá trình sản xuất thử làm lan tỏa độc hại mà không có khả năng cấu tạo chụp che chắn và hút cục bộ: cấp gió ngoài trời để đảm bảo thông số môi trường (nhiệt độ, vận tốc gió, nồng độ độc hại) theo phụ lục 1, 2, 4 của tiêu chuẩn này.

Chú thích: Khi thiết kế hệ thống tấm không khí phải dự tính cả những biện pháp ngăn ngừa hiện tượng thổi trượt các khí độc hại sang các vị trí làm việc gần đó.

3.1.8. Sưởi ấm bằng không khí chỉ cần thực hiện kết hợp với điều tiết không khí hoặc với nhu cầu công nghệ nếu có.

Trong trường hợp cần sưởi ấm (chống lạnh) cho vùng khí hậu xây dựng AI, AII (xem TCVN 4088: 1985) thì cần có cơ sở luận chứng kinh tế – kĩ thuật.

3.1.9. Khi tính toán các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng khí thì tùy thuộc vào thể loại và mục tiêu mà:

  1. Tính toán theo thông số cấp III – khi thiết kế các hệ thống thông gió chung (dùng lực đẩy tự nhiên hay cơ khí) nhằm nhiệm vụ thải nhiệt, ẩm dư, gồm cả những trường hợp làm mát đơn giản bằng quá trình đoạn nhiệt.
  2. Tính toán theo thông số cấp III cho mùa nóng, thông số cấp II cho mùa lạnh của năm – khi thiết kế thông gió chung nhằm thải chất độc hại cấp l, 2, 3, 4 hoặc để cân bằng lượng gió thải ra qua các hệ thống hút cục bộ hoặc hút theo giây chuyền công nghệ (quá trình cháy, vận chuyển bằng khí nén, sấy…), kể cả khi thiết kế thông gió làm mát bằng bay hơi đoạn nhiệt (phun nước trong phòng, trong đường ống hoặc trong buồng phun) cũng như tấm không khí bằng không khí ngoài trời.
  3. Tính toán theo thông số cấp II – thiết kế điều tiết không khí;
  4. Tính toán theo thông số cấp II cho mùa lạnh – thiết kế sưởi ấm bằng không khí cũng như các màn gió, màn nhiệt;
  5. Tính toán theo thông số cấp I – chỉ khi thiết kế điều tiết không khí với những yêu cầu công nghệ có cơ sở.

Chú thích:

  1. Khi thiết kế thông gió, điều tiết không khí chỉ dùng cho một phần thời gian trong ngày (chỉ dùng buổi tối hoặc vào một số giờ nhất định trong ngày) hoặc một số tháng trong năm, thì cho phép lấy những thông số khác với những chỉ dẫn kể trên.
  2. Lượng không khí cần để hòa loãng nồng độ cháy nổ trong môi trường không khí trong nhà phải được xác định theo thông số không khí ngoài nhà cấp I và II dùng để tính toán hệ thống.

3.1.10. Cần tổ chức thông gió xuyên phòng tự nhiên nhất là về ban đêm để làm mát nhà kể cả tầng trần mái và các tầng kĩ thuật nếu điều kiện vận hành cho phép.

3.1.11. Đối với buồng lái cần trục trong các gian sản xuất có nhiệt dư lớn, cũng như khi cường độ bức xạ trên 330 kcal/m2.h, hoặc khi nồng độ chất độc hại trong không khí bao quanh buồng lái vượt quá nồng độ giới hạn cho phép, thì phải tổ chức thông gió tắm khí hoặc điều tiết không khí. Đối với buồng lái ở những nơi thuộc nhóm sản xuấtA, B và F cũng như khi có chất độc cấp l, 2 bốc ra song không có phương tiện để lọc chúng trong không khí thì phải thiết kế hệ thống cấp gió tắm không khí hoặc điều tiết không khí bằng gió ngoài trời đã qua lọc bụi.

Cho phép được dùng tuần hoàn toàn phần khi môi trường khí quanh buồng lái không có khí độc hại hoặc chỉ có chất độc hại cấp 3, 4 với nồng độ thấp hơn nồng độ giới hạn cho phép.

3.1.12. Các hệ thống thông gió, điều tiết không khí tắm không khí và sưởi ấm bằng không khí được thiết kế với những biện pháp chống rung, chống ồn đảm bảo tiêu chuẩn ồn cho phép.

3.1.13. Trong các gian phòng thể tích lớn hơn 40m3 cho mỗi người làm việc và có cửa sổ hoặc cửa trời, nếu không có chất độc hại hoặc chất có mùi khó chịu bốc ra thì có thể cho phép sử dụng biện pháp thông gió tự nhiên qua cửa sổ hoặc cửa trời.

Chú thích: Cần hiểu khái niệm “không có chất độc hại bốc ra” là lượng chất độc hại bốc ra đồng thời từ thiết bị công nghệ không làm tăng nồng độ độc hại trong môi trường quá nồng độ giới hạn cho phép.

3.1.14. Khi thiết kế thông gió điều tiết không khí sưởi ấm bằng không khí cần tính kể đến điều kiện lan tỏa nhiệt độ, ẩm và chất độc hại bên trong nhà (phương thức lan tỏa và sự phân bố) cũng như điều kiện sử dụng nhà. Khi thiết kế cần đề xuất những biện pháp ngăn ngừa sự lan tỏa khí độc hại bên trong nhà cùng hiện tượng truyền gió từ phòng có nồng độ độc hại cao tới những phòng có ít hoặc không có chất độc hại bốc ra.

3.1.15. Trong thiết kế thường cần kết hợp thông gió cấp và điều tiết không khí với sưởi ấm bằng không khí.

Đối với nhà ở, nhà công cộng và nhà phụ trợ của các xí nghiệp, nơi chỉ hoạt động có một ca thì việc kết hợp thông gió cấp và điều tiết không khí với sưởi ầm bằng không khí cần được thực hiện với đầy đủ cơ sở.

3.2 Trong thông gió điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí.

3.2.1. Các hệ thống thông gió cấp – thải chung, hoặc điều tiết không khí các gian sản xuất không có hệ thống thông gió tự nhiên cần được thiết kế ít nhất bằng hai hệ thống thải và hai hệ thống cấp để đảm bảo không dưới 50% lưu lượng gió trao đổi khi ngừng một hệ thống.

Khi thiết kế chỉ một hệ thống cấp và một hệ thống thải hoặc một cụm máy điều hòa không khí thì cần lắp đặt quạt gió dự phòng có động cơ điện tự động khởi động khi quạt gió chủ yếu ngừng chạy hoặc nối qua ống góp với các hệ thống lân cận nhằm bảo đảm ít nhất 50% lưu lượng gió trao đổi khi hệ thống quạt gió chính ngừng chạy.

Chú thích: Những nhà và phòng được coi là không được thông gió tự nhiên nếu không khí ngoài trời chỉ được cấp bởi hệ thống thông gió cơ khí hoặc hệ thống điều tiết không khí và không có lỗ cửa chuyên dụng cho mục dích thông thoáng. Các phần nhà không được thông gió tự nhiên (thông thoáng) là những phần nằm cách xa tường ngoài có lỗ cửa thông thoáng trên 30m.

3.2.2. Nếu các phòng cách biệt vì điều kiện công nghệ không được thông thoáng tự nhiên khi quạt cấp gió và thải gió ngừng hoạt động lại có lỗ cửa đóng mở thông với các phòng bên đảm bảo đủ lượng gió cấp vào hoặc thải ra thì cho phép không đặt thêm quạt gió dự trữ cho các phòng này như đã ghi trong điều 3.16 mà chỉ cần có sẵn thiết bị dự trữ để thay thế quạt gió bị hỏng trong khoảng thời gian 24 giờ.

3.2.3. Các hệ thống điều tiết không khí (cả trung tâm lẫn cục bộ) có nhiệm vụ duy trì thông số vi khí hậu trong nhà suốt năm và suốt ngày cần được thiết kế ít nhất 2 máy điều hòa không khí.

Công suất máy điều hòa không khí được xác định sao cho khi một máy bị hỏng lưu lượng không khí còn lại đảm bảo không dưới 50% lưu lượng tính toán, còn năng suất lạnh đủ đảm bảo nhiệt độ trong phòng ở giới hạn trên của vùng tiện nghi (t = 29,40C) khi nhiệt độ không khí ngoài trời bằng nhiệt độ tính toán theo điều 3.1.9

Chú thích: Khi có đủ các yêu cầu công nghệ cơ sở đối với sự ổn định các thông số không khí trong nhà suốt ngày và suốt năm thì cho phép đặt máy điều hòa không khí dự trữ.

3.2.4. Đối với những gian phòng mà trong đó có thể xuất hiện lượng độc hại giai đoạn ngắn (bếp trong nhà ở, lớp học v.v…) cần thiết kế hệ thống thông gió có cơ cấu để tăng lượng gió trao đổi trong từng giai đoạn ngắn nếu thật sự có nhu cầu bảo đảm môi trường theo tiêu chuẩn.

3.2.5. Các hệ thống cấp gió tắm không khí không được ghép cùng với hệ thống thông gió cấp.

3.2.6. Đối với nhà ở, nhà công cộng, nhà phụ trợ cần chú ý tổ chức thông thoáng song cần có biện pháp chống gió lùa.

Đối với nhà nhiều tầng (có hoặc không có hệ thống điều tiết không khí ) dùng ống thông gió đứng cho bếp và khu vệ sinh thì hệ thống ống này phải có quạt hút cơ khí.

3.2.7. Các hệ thống thông gió tự nhiên trong nhà xưởng sản xuất có nhiệt hiện dư trong mùa nóng cần được tính toán theo chênh lệch áp lực nhiệt ứng với chênh lệch nhiệt độ không khí bên trong và bên ngoài ở thông số III, có kể tới mức gia tăng nhiệt độ không khí theo chiều cao gian xưởng.

Khi tính toán thông gió tự nhiên cần tính đến tác động của các hệ thống thông gió cơ khí và tác động cản của gió.

3.2.8. Các hệ thống thông gió tự nhiên các phân xưởng không có nhiệt hiện dư trong mùa nóng của năm cần được tính toán theo tác động của gió.

Tốc độ gió tính toán trong mùa nóng của năm lấy theo TCVN 4088: 1985.

3.2.9. Các hệ thống thông gió cục bộ hoặc thông gió chung phải được thiết kế để thải sản phẩm cháy của các giàn sưởi bức xạ dùng nhiên liệu khí đốt nhằm đảm bảo độ trong sạch môi trường không khí của vùng làm việc hoặc vùng phục vụ.

3.2.10. Đối với bộ sấy không khí cấp hai hoặc bộ sấy cục bộ trong hệ thống điều tiết không khí cần cung cấp chất mang nhiệt là nước có thông số nhiệt không đổi.

3.2.11. Các hệ thống hút cục bộ và thông gió thải chung phải tách rời nhau.

3.2.12. Các hệ thống hút cục bộ tủ thiết bị công nghệ cần được cấu tạo riêng rẽ, nếu trong không khí hút thải có chứa :

  1. Các chất mà phản ứng hóa học hay hỗn hợp cơ học giữa chúng làm tăng nhiệt độ và có thể gây cháy, nổ (hỗn hợp đất đèn với hơi nước, bột nhôm với hơi nước.v.v…) hoặc tạo thành hỗn hợp nổ;
  2. Các chất mà khi hòa trộn có thể tạo nên hỗn hợp hoặc chất hóa học độc hại hơn.

Chú thích: Trong nhiệm vụ thiết kế về mặt bằng công nghệ phải ghi rõ quy định và trình tự cho phép ghép các hệ thống hút cục bộ các chất dễ nổ và cháy.

3.2.13. Các hệ thống hút cục bộ các chất dễ nổ và cháy, một khi có khả năng lắng đọng hoặc ngưng tụ những chất này trong đường ống dẫn gió hoặc trong thiết bị thông gió (thí dụ: hệ thống hút cục bộ các buồng sơn v. v…), phải được thiết kế riêng rẽ cho mỗi một phòng hoặc mỗi một đơn vị thiết bị.

3.2.14. Các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí cần được thiết kế riêng rẽ cho mỗi nhóm phòng bị cách ly bởi tường chắn lửa; còn đối với sản xuất thuộc nhóm A, B, C và F thì cần được cấu tạo riêng rẽ cho mỗi tầng.

Cho phép thiết kế các hệ thống chung cho các nhóm phòng kế cận (trên cùng một tầng) thuộc một trong các nhóm sản xuất A, B, C hoặc F nằm ở các tầng khác nhau (trừ khi vật liệu và sản phẩm dễ cháy hoặc vật liệu và sản phẩm không cháy chứa trong bao bì dễ cháy) khi có đồng thời những điều kiện sau đây :

  1. Cùng một quá trình công nghệ;
  2. Trong các gian sản xuất thuộc nhóm A, B hoặc F có sử dụng các chất dễ cháy, nổ thuộc cùng một dạng hoặc các gian sản xuất đều thuộc nhóm C;
  3. Các gian sản xuất nằm ở không quá 3 tầng kế tiếp;
  4. ống dẫn gió của các gian sản xuất nhóm A, B, C và F được thi công theo yêu cầu của điều 3.10.23 và 3. 10.24.

3.2.15. Các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí nên thiết kế chung cho các gian sản xuất nhóm D và E nằm trên cùng một tầng hoặc khác tầng trong cùng một khu vực giới hạn bởi tường ngăn lửa.

3.2.16. Các hệ thống thải không khí từ các khu vực quanh thiết bị dễ nổ (các khu vực sản xuất nhóm A, B hoặc F) nằm trong các gian sản xuất nhóm C, D hoặc E, cần được cấu tạo cách biệt với các hệ thống thông hơi hút thải chung của các gian sản xuất này.

3.2.17. Các hệ thống thông gió điều tiết không khí, sưởi ấm bằng không khí thường được cấu tạo chung cho số lượng bất kể các gian phụ trợ cùng chủng loại nằm cùng tầng hoặc khác tầng.

Các hệ thống riêng rẽ được thiết kế theo các chỉ dẫn riêng biệt của các tiêu chuẩn thiết kế nhà phụ trợ hoặc nhà công nghiệp.

3.2.18. Các hệ thống thông hơi chung và điều tiết không khí phục vụ cho các gian sản xuất nhóm C, cho phép đồng thời phục vụ cho các gian lẻ nằm trên mặt bằng sản xuất chính (phòng trưởng kíp v.v…)

3.2.19. Hệ thống thông hơi cơ khí phải được thiết kế riêng rẽ cho các kho chứa chất lỏng và khí dễ bắt lửa và gây cháy của mỗi nhóm sản xuất A, B, C hay F dùng quạt hút dự phòng kèm động cơ tự đóng mạch khi quạt chính ngừng hoạt động.

Nếu hơi, khí bốc vào môi trường của những gian kho này nhẹ hơn không khí và nếu lượng không khí thay đổi theo tiêu chuẩn hoặc theo điều kiện kĩ thuật không vượt quá hai lần thể tích phòng mỗi giờ, thì cho phép sử dụng biện pháp hút tự nhiên cho mỗi gian kho riêng rẽ.

3.2.20. Hệ thống thông gió, điều tiết không khí chung hay sưởi ấm bằng không khí được phép thiết kế cho một nhóm phòng của nhà sản xuất một tầng hoặc kho một tầng có lối thoát ra ngoài, cho tổ hợp bất kì của các nhóm a, B, C hoặc f, khi tổng diện tích các phòng không quá 1.100 m2 trong phạm vi ngăn cách của các tường chắn lửa.

Trong trường hợp này cần đặt quạt dự phòng cho hệ thống hút, khởi động tự động khi quạt chính ngừng chạy. ống dẫn gió phải được thiết kế theo yêu cầu của điều 3.10.20.

3.2.21. Hệ thống hút cho kho chứa dịch và khí dễ bắt lửa, dễ cháy của các nhóm sản xuất A, B, C hay F được dùng lực hút tự nhiên nếu tiêu chuẩn cho phép.

Đối với kho thuộc nhóm sản xuất A, B hay F nếu khối lượng dịch và khí dễ bắt lửa, dễ cháy vượt quá 10T, thì ngoài hệ thống hút tự nhiên theo tiêu chuẩn, còn cần cấu tạo cả hệ thống hút cơ khí.

3.2.22. Đối với các hố sâu quá 0,5m trong các gian sản xuất thuộc nhóm A, B hay F, khi sử dụng khí, hơi cháy cũng như khi sử dụng dịch dễ cháy, dễ bắt lửa, thì cần tổ chức hệ thống cấp gió cơ khí. Đối với những hố có người làm việc thường kì thì còn cần cả hệ thống hút cơ khí.

Chú thích: Cho phép sử dụng hệ thống thông hơi chung của gian sản xuất để thông thoáng các hố, hốc nêu trên.

3.2.23. Trong các gian sản xuất nhóm A, B và F và trong các gian có hơi khí độc cấp 1,2,3 nếu có tiếp giáp với những gian sản xuất và gian phụ trợ khác thì cần đảm bảo lưu lượng hệ thống cấp phải nhỏ hơn 5% so với lưu lượng hệ thống hút.

Quy định trên không cần đảm bảo nếu các gian tiếp giáp nhau được cách ly bởi vách ngăn kín không có cửa đi hoặc các lỗ khác.

3.2.24. Các thiết bị thông gió, đường ống dẫn gió, đường ống dẫn nhiệt, dẫn lạnh… cần thiết phải bọc cách nhiệt bề mặt nếu cần giữ cho nhiệt độ chất mang nhiệt (không khí, nước, hơi nước…) không biến động nhiều hơn giới hạn cho phép. Cũng cần phải cấu tạo bọc cách nhiệt bề mặt để loại trừ hiện tượng đọng sương trên bề mặt hoặc giảm nhiệt độ bức xạ của bề mặt, đường ống, ống dẫn gió v.v…

Nhiệt trở của lớp cách nhiệt kể trên phải nhỏ hơn lm2.h.0C/kcal nếu không có những yêu cầu khác.

Lớp cách nhiệt của thiết bị điều tiết không khí, ống dẫn gió lạnh, ống dẫn lạnh (nước lạnh) cần có lớp bảo vệ cách nước, chống ẩm.

Chú thích: Việc bọc cách nhiệt ống gió tuần hoàn của hệ thống điều tiết không khí phải có luận cứ.

3.2.25. Lớp bọc cách nhiệt thiết bị thông gió, điều tiết không khí, đường ống dẫn gió trong các gian sản xuất nhóm A, B và F cũng như lớp cách nhiệt thiết bị và đường ống dẫn gió đặt trong tầng trần mái, tầng hầm, phải làm bằng vật liệu không cháy, trừ lớp sơn cho phép dùng vật liệu cháy. Trong các trường hợp còn lại cho phép làm bằng vật liệu khó cháy. ở những chỗ cắt ngang tường, vách, trần, có độ chịu lửa trên 0,75h thì không nên cấu tạo lớp cách nhiệt, mà chèn kín khe bằng vật liệu không cháy.

Trong cấu tạo của lớp cách nhiệt bề mặt lạnh của hệ thống điều tiết không khí (đường ống dẫn lạnh, ống dẫn gió, thiết bị điều tiết không khí…) cho phép làm lớp cách ẩm bằng vật liệu cháy phủ ngoài một lớp bảo vệ bằng vải thủy tinh đối với đối với ống dẫn lạnh và dẫn gió và bằng vật liệu không cháy đối với máy điều tiết không khí.

3.2.26. Buồng phun, bộ phun ẩm cũng như mũi phun ẩm bổ sung phải dùng nước có chất lượng của nước sinh hoạt.

Khi tính toán lưu lượng nước cho buồng phun phải tính cả lượng nước hay hơi, lượng nước bị cuốn theo gió và lượng nước xả đáy buồng phun.

Công việc thay và xả nước trong hệ thống cần được thực hiện vào giai đoạn ít tải của mạng ống cấp nước.

3.2.27. Miệng thu gió ngoài trời cần được bố trí ở những vị trí ít bị nhiễm bẩn nhất của công trình.

3.2.28. Miệng lấy gió ngoài của các hệ thống thông gió cơ khí cần đặt ở độ cao không dưới 2m, cách mặt đất tính từ đáy miệng lấy gió, và không dưới lm nếu miệng lấy gió đặt ở vùng có thảm cây xanh.

Đối với các hệ thống thông gió tự nhiên, cửa lấy gió phải được bố trí theo điều 3.4.7

3.2.29. Miệng lấy gió ngoài của các hệ thống thông gió cơ khí cho phép đặt xa nhà nếu nồng độ độc hại ở vị trí gần nhà vượt quá 30% nồng độ giới hạn cho phép trong vùng làm việc. Nếu độc hại là bụi thì có thể đặt miệng lấy gió gần nhà, song phải lọc bụi khi nồng độ bụi tại điểm lấy gió vượt quá 30% tiêu chuẩn cho phép cho vùng làm việc.

Các nguồn độc hại khác cũng phải lọc nếu có thiết bị lọc thích hợp và nếu cho phép về mặt luận chứng kinh tế – kĩ thuật.

3.2.30. Miệng lấy gió ngoài được phép bố trí trên mái nhà và công trình trong những điều kiện sau :

  1. Nếu trên mái không có ống thải công nghệ và ống thải các khí độc hại từ các hệ thống hút cục bộ hoặc những ống thải này nằm ngoài vùng bóng rợp khí động do luồng gió tới gây ra, hoặc nếu không khí thải từ các thiết bị gây bụi đã được lọc đến nồng độ ghi trong điều 3.2.42.
  2. Nếu nồng độ chất độc hại ở vị trí đặt miệng lấy gió ngoài không vượt quá 30% nồng độ giới hạn cho phép quy định cho vùng làm việc của gian sản xuất.

Chú thích: Trên các mái bằng với độ dốc 25% cho phép bố trí các miệng lấy gió ngoài ở độ cao không dưới 3m so với mặt mái kế cận hoặc cửa trời, nếu miệng lấy gió nằm cách mặt tường ngoài trên 20m.

3.2.31. Khi đảm bảo được yêu cầu 3.2.30 thì được phép bố trí miệng lấy gió ngoài trên cùng một độ cao với miệng thải gió của hệ thống thông hơi chung, nếu khoảng cách theo chiều nằm ngang giữa miệng lấy gió và miệng thải gió vượt quá 10 lần đường kính tương đương (theo diện tích) của miệng thải gần nhất, song không dưới 20m.

ở khoảng cách nhỏ hơn tới miệng thải của hệ thống thông hơi chung thải gió qua ống theo phương thẳng đứng thì cho phép bố trí miệng lấy gió ngoài trong phạm vi vòng tròn có bán kính bằng chiều cao hơn mép trên của miệng lấy gió ít nhất 2m.

3.2.32. Miệng lấy gió ngoài phải được bố trí ở những nơi tránh được tàn lửa bay vào hoặc có biện pháp phòng ngừa tàn lửa cũng như khí, hơi cháy nổ xuất hiện trong quá trình vận hành hay khi có sự cố các bể chứa, thùng chứa và đường ống.

3.2.33. Miệng lấy gió ngoài của các hệ thống thông gió, điều tiết không khí, sưởi ấm bằng không khí thuộc các gian sản xuất nhóm A, B và F được phép cấu tạo chung bất kì tổ hợp nào song phải tách riêng với các miệng lấy gió cấp cho gian sản xuất nhóm C, D và E và các gian phụ trợ của sản xuất.

3.2.34. Miệng lấy gió ngoài cấp cho các phòng có thiết bị điện nằm kề các gian sản xuất nhóm A, B và F trong đó sử dụng khí cháy (kể cả khí ngưng tụ) cần được bố trí ở những nơi loại trừ được hỗn hợp cháy nổ của các khí trên trong không khí.

3.2.35. Không khí ngoài trời và tuần hoàn phải qua lọc bụi trước khi cấp vào nhà.

  1. Đối với các hệ thống điều tiết không khí.
  2. Đối với các hệ thống thông gió, sưởi ấm bằng không khí trong nhà ở, nhà công cộng, phòng phụ trợ của nhà sản xuất phải có luận cứ.
  3. Đối với các hệ thống thông gió, sưởi ấm bằng không khí của các nhà sản xuất – nếu có yêu cầu kĩ thuật và trong trường hợp nồng độ bụi của gió ngoài hoặc gió tuần hoàn vượt quá 30% nồng độ bụi giới hạn cho phép trong vùng làm việc.

Trong các hệ thống cấp gió cơ khí, sưởi ấm bằng không khí của nhà ở, nhà công cộng cũng như nhà phụ trợ thuộc xí nghiệp không phải lọc bụi nếu lưu lượng thông gió chủ yếu cấp qua cửa trời bằng phương thức thông gió tự nhiên.

Không cần lọc bụi trong các hệ thống thông gió cơ khí, sưởi ấm bằng không khí của nhà ở, nhà công cộng và phụ trợ nếu cửa lấy gió ngoài nằm trong vùng cây xanh.

3.2.36. Trong các hệ thống tắm không khí và các hệ thống cấp khí trực tiếp vào vùng thở của người lao động (mặt nạ, mũ phòng độc che chắn đầu và mặt người lao động…) cần phải lọc bụi.

3.2.37. Nhất thiết áp dụng các biện pháp công nghệ tiên tiến nhằm giảm lượng độc hại tràn tỏa ra môi trường xung quanh cũng như nhằm giảm lưu lượng thông gió cần thiết.

3.2.38. Không khí thải ra môi trường từ hệ thống thông gió qua giếng thải, chụp thải gió, qua cửa trời thông gió v.v… Nếu có chứa chất độc hại thì cần phải dự đoán và tính toán sự phân tán độc hại sao cho nồng độ của chúng không vượt :

  1. Nồng độ độc hại tối đa tức thời – đối với môi trường khu dân cư.
  2. 30% nồng độ giới hạn cho phép trong vùng làm việc của xưởng sản xuất – đối với các miền ngoài nhà sản xuất, nơi bố trí cửa lấy gió ngoài của các hệ thống thông gió điều tiết không khí cũng như các cửa lấy gió thông thoáng tự nhiên.

3.2.39. Trong bản tính toán bảo vệ môi trường không khí khỏi bị nhiễm bẩn do các miệng thải của hệ thống thông hơi trong khu dân cư và trên phạm vi xí nghiệp cần phải tính kể tổng lượng thải tối đa các chất độc hại trong lưu lượng không khí thải ra, nồng độ các chất độc hại này trong môi trường do ô nhiễm công nghiệp theo các số liệu công nghệ cũng như nồng độ nền (nồng độ hiện có) trong vùng xây dựng.

Chú thích: Bản tính toán phân tán độc hại trong môi trường không khí do luồng thải thông gió tạo ra được đưa vào cơ cấu thiết kế thông gió của công trình hoặc lập thành một chương riêng của thiết kế phần công nghệ.

3.2.40. Nếu trong không khí thải từ các hệ thống hút cục bộ có chứa các chất độc hại và có mùi khó chịu, thì trước khi xả ra môi trường xung quanh nhất thiết phải lọc sạch để đảm bảo yêu cầu của các điều 3.2.38; 3.2.39 và 3.2.42 cũng như các tiêu chuẩn chuyên ngành khác đã được duyệt.

Đối với các chất độc hại còn chứa trong luồng khí thải sau khi lọc, cũng như khi không có phương tiện kĩ thuật để lọc thì phải có biện pháp phân tán chúng trong môi trường theo yêu cầu của các điều 3.2.38; 3.2.39 và 3.2.42.

Nếu chưa có phương tiện kĩ thuật để lọc không khí thải thì phải dự kiến khả năng xây lắp thiết bị lọc ở xí nghiệp hay công trình trong tương lai.

Khi tổng lượng khí thải chứa độc hại không lớn hoặc khi nồng độ của chúng là nhỏ trong khí thải cho phép không tổ chức lọc nếu bằng phương pháp phân tán chúng trong không gian ở những điều kiện không thuận lợi nhất (chiều gió và lực gió, lượng mưa, khí áp v.v…) mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu trên đây.

Đối với các chất độc hại có khả năng tồn tại lâu trong không gian và gây tác hại lớn đối với môi trường (khí Re và nhóm Re, phóng xạ nguyên tử…) nhất thiết phải trừ khử bằng các phương tiện kĩ thuật.

Nếu chưa có phương tiện kĩ thuật để lọc trừ thì cần kiến nghị thay đổi quy trình công nghệ hoặc xin phép duyệt qua cơ quan bảo vệ môi trường có thẩm quyền.

3.2.41. Nồng độ bụi cho phép trong không khí thải ra môi trường xung quanh tính bằng mg/m3 phải được xác định theo các công thức sau :

  1. Nếu lượng không khí thải ra ngoài nhà lớn hơn 15 ngàn mét khối mỗi giờ: C1 = 100K
  2. Nếu lượng không khí thải ra bằng hoặc nhỏ hợn 15 ngàn m3 mỗi giờ: C2 = (160 – 4L)K

K – Hệ số, phụ thuộc vào nồng độ bụi giới hạn cho phép trong môi trường vùng làm việc, lấy theo phụ lục No6.

L – Lưu lượng không khí thải ra (ngàn m3/h)

Chú thích:

  1. Nếu nồng độ bụi trong không khí thải ra không vượt quá đại lượng C1 và C2 thì cho phép thải không khí không phải lọc;
  2. Hiệu quả lọc bụi có cỡ hạt 20M và lớn hơn phải đạt ít nhất 90%

Miệng thải khí từ các hệ thống hút bụi cục bộ có chứa chất dễ nổ cháy hoặc chất độc hại thuộc cấp l và 2 hoặc chứa chất có mùi khó chịu cần được đặt cao hơn vùng bóng rợp khí động của ngôi nhà nhờ các ống cao hoặc thải bằng luồng cao tốc.

Luồng thải không khí có chứa chất dễ nổ cháy, chất độc hại hay chất có mùi khó chịu không được xả trong vùng có áp lực dương do gió gây ra. Luồng thải có chất dễ nổ cháy không được xả vào khu vực gần luồng xả sản phẩm cháy.

Cho phép xả không khí độc hại vào vùng bóng rợp khí động của nhà, nếu kết quả tính toán xác định được rằng nồng độ chất thải trong môi trường nằm trong giới hạn quy định của điều 3.2.38.

3.2.42. Việc thải không khí bằng áp lực tự nhiên (áp lực trọng trường), hoặc áp lực dư trong nhà do các hệ thống thông hơi cơ khí, cần được tổ chức qua các cửa sổ, cửa trời, chụp thải gió có cơ cấu đảm bảo sức hút ổn định không phụ thuộc vào chiều gió và lực gió, trừ những trường hợp mà luận cứ kinh tế – kĩ thuật khẳng định sự cần thiết phải dùng biện pháp hút thải cơ, khí (quạt gió đặt trên mái…).

Giếng thải gió, chụp thải gió và quạt mái cần có van điều chỉnh được điều khiển từ vùng làm việc.

Cho phép thải gió qua cửa sổ trời lấy ánh sáng chịu tạt gió với điều kiện bố trí chung ở cả hai phía của tường dọc sao cho tổng diện tích lỗ cửa sổ ở mỗi bên đủ đảm bảo lượng gió trao đổi.

Các hệ thống thải gió cơ khí có thể thải gió qua lỗ cửa trên tường ngoài có giếng thải đưa cao quá mái.

Trong trường hợp đặc biệt cho phép thải gió từ hệ thống thông hơi hút chúng qua lỗ và qua cửa sổ trên tường, sao cho chất độc hại và chất có mùi khó chịu không lan trở lại phòng hoặc các phòng khác, các nhà khác nằm gần.

3.2.43. Luồng thải của các hệ thống thông gió chung của các gian sản xuất nhóm A, B và F phải được cấu tạo và tính toán để đảm bảo các yêu cầu của điều 3.2.28.

Các luồng thải nêu trên phải bố trí ở độ cao không dưới lm so với điểm cao nhất của mái và cách xa các lỗ cửa lấy gió ngoài không dưới 20m theo chiều nằm ngang hoặc cao hơn lỗ cửa lấy gió ngoài 6m nếu khoảng cách theo chiều nằm ngang dưới 20m.

ống hoặc giếng thải gió từ hai hệ thống thông gió trở lên với bất kì loại sản xuất nào phải được cấu tạo riêng rẽ nếu ở một trong các hệ thống trên có thể có sự ngưng đọng sản phẩm dễ cháy hoặc nếu hòa trộn khí thải của hai hệ thống có thể hình thành hỗn hợp nổ. Khi có yêu cầu kĩ thuật phải đấu vào một giếng thải nhiều hệ thống như trên thì phải cấu tạo vách ngăn chia cắt giữa chúng bằng vật liệu không cháy kể từ điểm đấu chung cho tới miệng xả của giếng thải hay của ống thải.

Các giếng thải hay ống xả từ các hệ thống thông gió cục bộ hay thông gió chung có chứa các hợp chất dễ nổ hoặc hợp chất có mùi khó chịu hoặc hợp chất độc hại phải cấu tạo không có chụp cản (nón, chụp v.v…)

3.3 Xác định lượng không khí thông gió và điều tiết không khí – Điều kiện sử dụng tuần hoàn gió.

3.3.1. Lượng không khí cần đưa vào phòng để đảm bảo các thông số môi trường không khí trong vùng làm việc hoặc khu vực phục vụ cần được xác định qua tính toán dựa trên cơ sở lượng nhiệt, lượng ẩm hoặc lượng độc hại lan tỏa vào gian phòng có tính đến sự phân bố chúng không đồng đều theo chiều cao hay theo mặt bằng, cũng như tính đến việc hút thải khí qua các hệ thống thông gió, hệ thống thải cục bộ, các hệ thống kĩ thuật khác (sấy, đốt nhiên liệu v.v…). Tính toán phải tiến hành theo những công thức trong phụ lục 13.

Chú thích:

  1. Đối với các công trình có thông thoáng tự nhiên hoặc không có nhu cầu đảm bảo thông số vi khí hậu hoặc độ kín của nhà thì được phép không phải cân bằng lưu lượng thải bằng hệ thống cấp gió.
  2. Không được phép xác định lưu lượng thông gió cần đảm bảo theo bội số trao đổi không khí, trừ những trường hợp quy định trong các tài liệu tiêu chuẩn đã được xét duyệt theo đúng thể lệ.

Khi thiếu số liệu về lượng độc hại lan tỏa vào phòng sản xuất thì cho phép xác định lưu lượng thông gió theo bội số trao đổi không khí được duyệt theo đúng tiêu chuẩn cấp ngành.

  1. Diện tích khu sàn trong phòng do hệ thống điều tiết không khí phục vụ cần được xác định bằng tính toán. Nếu lượng nhiệt tỏa trong phòng phân bố không đều thì diện tích khu sàn cần được xác định căn cứ theo khu vực có phân bố nhiệt đồng đều.
  2. Khi thiết kế điều tiết không khí cần được sử dụng tối đa chênh lệch nhiệt độ giữa không khí cấp và không khí trong phòng.

3.3.2. Nếu trong phòng có hơi – khí cháy có thể hình thành hỗn hợp nổ với không khí thì cần thực hiện tính toán kiểm tra lượng không khí cấp vào (lưu lượng trao đổi) sao cho nồng độ hơi, khí này trong phòng không vượt quá 5% giới hạn dưới của nổ ở điều kiện thông số không khí bên ngoài dùng trong tính toán hệ thống.

Lưu lượng gió cấp qua các hệ thống thông gió lấy bằng đại lượng lớn nhất thu được theo các điều 3.3. 1 và 3.3.2.

3.3.3. Khi xác định lưu lượng gió của các hệ thống cấp gió, hệ thống điều tiết không khí, hệ thống cấp gió cơ khí cho sưởi ấm bằng không khí thì cần tính kể cả đương lượng nhiệt tương đương do quạt cấp và quạt tuần hoàn mang vào (hiện tượng làm nóng không khí trong các quạt gió trên mạng đường ống).

3.3.4. Khi thiết kế cần dự kiến khả năng tăng lưu lượng gió hay số lượng hệ thống trong trường hợp tăng cường độ sản xuất hay mở rộng sản xuất.

3.3.5. Nếu không có yêu cầu gì đặc biệt đối với thông số không khí thì khi thiết kế các hệ thống thông gió cơ khí cần tính toán kiểm tra hiện tượng đọng sương và tạo và tạo sương mù khi cấp gió lạnh không xử lí vào môi trường trong nhà.

3.3.6. Lưu lượng không khí bên ngoài tối thiểu cần cấp vào nhà qua các hệ thống thông gió và điều tiết không khí phải lấy theo phụ lục 7.

3.3.7. Khi thiết kế thông gió cho các gian sản xuất cần tổ chức tuần hoàn gió vào mùa lạnh, còn khi thiết kế điều tiết không khí thì cần tổ chức tuần hoàn gió trong các mùa để tiết kiệm lạnh và nhiệt, nếu việc làm này không đi ngược lại những chỉ dẫn ở điều 3.3.8 – 3.3.10.

Khả năng tuần hoàn gió trong nhà công cộng và nhà phụ trợ cần xác định theo những tiêu chuẩn thiết kế công trình này.

Trong nhà ở chỉ cho phép tuần hoàn gió trong phạm vi một gian phòng.

Trong các hệ thống có tuần hoàn gió cần cấu tạo thiết bị không cho phép cấp gió ngoài trời một lưu lượng nhỏ dưới mức tiêu chuẩn.

Các hệ thống điều tiết không khí tuần hoàn gió trung tâm thường phải được thiết kế để có thể thay đổi tỉ lệ hòa trộn gió tuần hoàn và gió ngoài trời tuỳ thuộc thông số không khí bên ngoài. Trong những trường hợp này thường phải đặt một quạt gió tuần hoàn riêng.

3.3.8. Các phòng sau đây không được tuần hoàn gió trong các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí.

  1. Trong môi trường không khí có các chất độc hại thuộc cấp nguy hiểm l, 2 và 3, trừ những phòng mà lượng độc hại chứa trong thiết bị công nghệ ít tới mức dù lan tỏa đồng thời vào môi trường cũng không làm cho nồng độ độc hại vượt nồng độ giới hạn cho phép đối với vùng làm việc.
  2. Trong môi trường không khí có chứa vi khuẩn, siêu vi trùng gây bệnh và nấm gây bệnh;
  3. Trong môi trường không khí có những chất gây mùi khó chịu.

Trong các phòng, gian nêu trên, ngoài giờ làm việc, chỉ cho phép tuần hoàn không khí nếu quy trình sản xuất có liên quan đến các chất độc hại thuộc cấp 3 và 4, hoặc loại trừ được hoàn toàn khả năng lan tỏa các chất độc hại cấp 1, 2 còn dư lại.

3.3.9. Trong các hệ thống thông gió, điều tiết không khí cho phép tuần hoàn không khí từ

các phòng khác nếu ở đó không lan tỏa những chất độc hại và những chất có mùi khó chịu.

Trong các nhà sản xuất cho phép tuần hoàn không khí từ các gian khác, nếu các chất độc hại từ các gian này thuộc cấp 4, và nồng độ của chúng trong không khí lấy đi không vượt quá 30% nồng độ giới hạn cho phép trong khu vực làm việc.

Để tuần hoàn không khí, không được cấu tạo các cửa, lỗ chuyên dụng nhằm cho không khí tràn tự nhiên từ phòng này qua phòng khác mà phải đảm bảo cân bằng lưu lượng không khí về cấp và tuần hoàn có tổ chức giữa các phòng có quan hệ với nhau bằng các hệ thống thông gió này.

3.3.10. Trong các gian sản xuất thuộc nhóm A, B và F không được dùng tuần hoàn không khí trong các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí, cũng như tuần hoàn không khí từ các hệ thống hút cục bộ chất cháy nổ nằm trong các gian sản xuất thuộc các nhóm khác kể cả trong giờ và ngoài giờ làm việc.

3.3.11. Đối với sưởi ấm bằng không khí không kết hợp với thông gió thì được tuần hoàn gió trong phạm vi một gian sản xuất nếu trong đó không có các chất độc hại có thể cháy khi tiếp xúc với bề mặt trao đổi nhiệt của thiết bị sấy không khí.

Có thể dùng không khí lấy từ các gian sản xuất khác để sưởi nếu đảm bảo được các yêu cầu trong điều 3.3.8 và 3.3.9.

3.4 Cấp không khí vào phòng.

3.4.1. Không khí cấp từ các hệ thống thông gió, điều tiết không khí và sưởi ấm bằng không khí thuộc các nhà phụ trợ cần được đưa trực tiếp vào vùng thường xuyên có người. Được phép tổ chức cấp gió như sau :

  1. Cấp một phần không khí từ các hệ thống cấp cơ khí vào hành lang hoặc các gian kế cận của nhà sản xuất, nếu gian kế cận này là phòng thí nghiệm. Lượng không khí cấp vào các gian kế cận và hành lang được phép lấy đến 10% tổng lưu lượng trao đổi gió của nhà sản xuất chính, song không vượt quá l,5 lần bội số trao đổi không khí (trừ những nhà sản xuất có quy hoạch mặt bằng các phòng kiểu khối blốc và các gian sản xuất ghi theo điều 3.2.23).
  2. Cấp không khí vào hành lang nhà ở và nhà công cộng cũng như nhà phụ trợ nếu lượng gió thông thoáng cho các gian này chỉ quy định về mặt hút và không vượt 1,5 lần trao đổi không khí (trừ phòng vệ sinh).

Chú thích: Không được phép thiết kế lỗ và cửa để thoát gió ở kết cấu ngăn che giữa các phòng hoặc hành lang và các phòng.

3.4.2. Gió cấp cho các khu vực nằm cách cửa sổ và cửa thông gió tự nhiên nằm ở tường ngoài trên 30m phải thực hiện bằng phương pháp tiện cơ khí.

Chú thích: Cho phép tổ chức thông thoáng tự nhiên cho các gian hoặc nhà nằm sâu hơn nếu có đủ cơ sở luận cứ.