TCVN 4419:1987 KHẢO SÁT CHO XÂY DỰNG – NGUYÊN TẮC CƠ BẢN


Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng:

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 4419:1987

KHẢO SÁT CHO XÂY DỰNG – NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

  1. Nguyên tắc chung (Phần tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng)

1.1. Tiêu chuẩn này qui định những yêu cầu chung cho các loại công tác khảo sát trắc địa, địa chất công trình và khí tượng thủy văn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo nhà, công trình. Khi khảo sát nguồn cung cấp (dùng nước tưới đất và nước mặt), vật liệu xây dựng, cải tạo thổ nhưỡng, địa thực vật, vệ sinh phòng bệnh v.v… ngoài việc tuân theo các quy định trong tiêu chuẩn này còn phải thực hiện theo các tiêu chuẩn và quy phạm khảo sát của các chuyên ngành tương ứng.

1.2. Công tác khảo sát phục vụ xây dựng cơ bản (gọi tắt là công tác khảo sát xây dựng) là công tác nghiên cứu và đánh giá tổng hợp điều kiện thiên nhiên của vùng (địa điểm) xây dựng, nhằm thu thập những số liệu cần thiết về địa hình, địa mạo, địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, các quá trình và hiện tượng địa chất vật lí, khí tượng thủy văn… để lập được các giải pháp đúng đắn về kĩ thuật và hợp lí nhất về kinh tế khi thiết kế, xây dựng nhà và công trình ; đồng thời dự đoán được những biến đổi của môi trường thiên nhiên xung quanh dưới tác động của việc xây dựng và sử dụng nhà, công trình.

1.3. Những công việc sau đây không thuộc nội dung của công tác khảo sát xây dựng: giải phóng đất để xây dựng, điều tra kĩ thuật và đo đạc nhà, công trình hiện có, lập cơ sở trắc địa ở thực địa để phục vụ cho xây dựng, đưa thiết kế ra thực địa, đo vẽ hoàn công, quan trắc sự biến dạng của nhà và công trình trong quá trình xây dựng và sử dụng chúng. Tuy vậy cơ quan khảo sát được phép thực hiện các công tác này theo hợp đồng riêng với chủ đầu tư (cơ quan đặt hàng).

1.4. Công tác khảo sát xây dựng phải được tiến hành theo giai đoạn, tương ứng với các giai đoạn thiết kế nhà và công trình theo quy định hiện hành; đồng thời có xét đến mức độ đã nghiên cứu, mức độ phức tạp của điều kiện thiên nhiên vùng (địa điểm) xây dựng, cũng như công dụng và quy mô của nhà, công trình xây dựng.

1.5. Các cơ quan khảo sát, khảo sát thiết kế thuộc các Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập được phép tiến hành các loại công tác khảo sát xây dựng. Các cơ quan nghiên cứu, đào tạo có liên quan đến điều tra cơ bản cũng được tiến hành các loại công tác khảo sát xây dựng, nhưng phải tuân theo các quy định của tiêu chuẩn quy phạm khảo sát xây dựng và các chế độ chính sách hiện hành.

1.6. Nội dung, khối lượng, yêu cầu kĩ thuật đối với công tác khảo sát cho từng dạng công trình xây dựng (dân dụng, công nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi) được quy định trong các tiêu chuẩn và quy phạm khảo sát của chuyên ngành tương ứng. Các cơ quan khảo sát, khảo sát thiết kế được phép thực hiện những loại công tác khảo sát đặc biệt phục vụ cho việc xây dựng và sử dụng nhà, công trình theo hợp đồng riêng.

1.7. Chỉ được phép thực hiện các dạng công tác khảo sát cho xây dựng khi có đầy đủ các văn bản sau :

– Yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát, giấy phép cấp đất xây dựng và giấy phép khảo sát do chủ đầu tư giao ;

– Phương án kĩ thuật và dự toán chi phí khảo sát do cơ quan khảo sát lập;

– Hợp đồng khảo sát do cơ quan khảo sát và chủ đầu tư kí kết theo quy định hiện hành.

Chú thích :

Chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết các thủ tục cần thiết với các cơ quan hữu quan trước khi kí hợp đồng khảo sát.

1.8. Yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát do chủ đầu tư giao phải lập cho tất cả các dạng công tác khảo sát.

Chú thích:

Chủ đầu tư phải chuyển giao cho cơ quan khảo sát tất cả tài liệu hiện có về điều kiện thiên nhiên của vùng (địa điểm)xây dựng đã nghiên cứu và khảo sát trước đây.

1.9. Nội dung yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát gồm :

– Tên đối tượng xây dựng ;

– Mục đích khảo sát các dạng công tác khảo sát dự kiến ;

– Vị trí và ranh giới của vùng (địa điểm) xây dựng, hoặc sơ đồ tổng mặt bằng của công trình xây dựng;

– Giai đoạn thiết kế;

– Công dụng và loại nhà, công trình xây dựng;

– Đặc điểm kết cấu và những thông số chính của nhà và công trình thiết kế (kể cả phần ngầm của chúng), cũng như các phương án có khả năng bố trí;

– Tải trọng tác động lên móng và các loại tác động dự kiến ;

– Độ cao san nền;

– Loại móng dự kiến, kích thước và chiều sâu đặt móng ;

– Độ biến dạng (lún, trượt, nghiêng) cho phép của nền nhà và công trình;

– Đặc điểm xây dựng và sử dụng nhà, công trình có thể làm cho điều kiện thiên nhiên bị biến đổi, kể cả những số liệu về tác động của các yếu tố nhân sinh, nguồn phát sinh bán ngập, thành phần và khối lượng chất thải của xí nghiệp nhà máy;

– Những yêu cầu đặc biệt về mức độ chính xác đối với công tác khảo sát và mức độ đầy đủ của các tài liệu khảo sát thu nhận được;

– Thời hạn và trình tự giao nộp báo cáo kĩ thuật và các tài liệu khác;

– Kèm theo yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát phải có các bản vẽ hoặc sơ đồ cần thiết.

Chú thích:

Trường hợp cần thiết, trong yêu cầu kĩ thuật khảo sát phải trình bày rõ nhiệm vụ khảo sát vật liệu xây dựng và khối lượng vật liệu cần cho xây dựng.

1.10. Yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát phải do cơ quan thiết kế lập, nhằm cung cấp những số liệu ban đầu cần thiết để cơ quan khảo sát giải quyết đúng đắn và hợp lí các nhiệm vụ khảo sát chủ yếu. Đối với công trình phức tạp và quan trọng, công trình bố trí ở những nơi có điều kiện thiên nhiên phức tạp thì yêu cầu kĩ thuật của công tác khảo sát phải lập cho từng giai đoạn thiết kế.

Chú thích:

Yêu cầu kĩ thuật khảo sát không phù hợp với các tiêu chuẩn và quy phạm về thiết kế và khảo sát,không đủ tài liệu cần thiết để xác định chính xác vị trí tiến hành khảo sát và nội dung, khối lượng công tác khảo sát, thì cơ quan khảo sát có quyền đề nghị với chủ đầu tư và cơ quan thiết kế bổ sung cho đúng yêu cầu.

1.11.  Trong thời gian chuẩn bị cơ quan khảo sát thực hiện những công tác sau :

– Thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu đã có về điều kiện thiên nhiên của vùng (địa điểm) khảo sát;

– Khảo sát khái quát ngoài hiện trường (địa điểm) xây dựng (trong trường hợp cần thiết);

– Lập phương án kĩ thuật, dự toán chi phí khảo sát và tiến độ thi công;

– Xét duyệt phương án kĩ thuật;

– Kí kết hợp đồng khảo sát;

– Tổ chức các đơn vị thi công (đoàn đội, tổ nhóm).

Dựa vào yêu cầu kĩ thuật khảo sát do chủ đầu tư giao, cơ quan khảo sát tiến hành lập phương án kĩ thuật khảo sát. Khi lập phương án kĩ thuật khảo sát phải sử dụng đến mức tối đa những tài liệu đã nghiên cứu, khảo sát trước đây và các tài liệu khác về điều kiện thiên nhiên của vùng (địa điểm) khảo sát.

Chú thích:

Nếu những tài liệu thu thập được chưa đủ để lập phương án kĩ thuật khảo sát, thì cơ quan khảo sát phải tiến hành khảo sát khái quát ngoài hiện trường vùng (địa điểm) dự kiến xây dựng để thu thập những tài liệu còn thiếu.

Phương án kĩ thuật khảo sát do cơ quan khảo sát lập trên cơ sở yêu cầu kĩ thuật và quy định trong các tiêu chuẩn, quy phạm về khảo sát thiết kế xây dựng; đồng thời phải xét tới kết quả phân tích các tài liệu thu thập được và các tài liệu khảo sát khái quát (nếu có). Phương án kĩ thuật khảo sát phải được chủ đầu tư nhất trí và được xét duyệt theo quy định hiện hành.

Chú thích:

Khi khảo sát cho xây dựng nhà và công trình nhỏ, với khối lượng khảo sát không lớn, được phép lập nhiệm vụ kĩ thuật sản xuất thay cho phương án kĩ thuật khảo sát, nhưng phải được chủ đầu tư nhất trí.

1.14. Nội dung của phương án kĩ thuật khảo sát phải gồm :

– Tên đối tượng xây dựng và vị trí địa lí, hành chính của nó;

– Khái quát đặc điểm địa lí tự nhiên và điều kiện thiên nhiên của vùng (địa hình, khí hậu, thủy văn, các quá trình và hiện tượng thiên nhiên bất lợi) ảnh hưởng tới việc tổ chức và thi công các loại công tác khảo sát ;

– Tình hình nghiên cứu của vùng (địa điểm) khảo sát và kết quả phân tích những tài liệu hiện có, cũng như kiến nghị về việc sử dụng chúng;

– Luận chứng về mức độ phức tạp của điều kiện thiên nhiên vùng (địa điểm) khảo sát và về nội dung, khối lượng, phương pháp và trình tự thực hiện các dạng công tác khảo sát ;

– Luận chứng về vị trí và diện tích cần tiến hành từng loại công tác khảo sát riêng biệt;

– Yêu cầu về việc bảo vệ tài nguyên và môi trường thiên nhiên khi thực hiện các dạng công tác khảo sát

Chú thích:

1) Nội dung, khối lượng, phương pháp và trình tự thực hiện các loại công tác khảo sát được xác định dựa vào yêu cầu của các tiêu chuẩn và quy phạm về khảo sát của từng chuyên ngành xây dựng, có tính đến công trình,giai đoạn thiết kế,diện tích khảo sát, mức độ nghiên cứu, mức độ phức tạp của điều kiện thiên nhiên.

2) Dựa vào kết quả khảo sát ngoài trời, cơ quan khảo sát có quyền thay đổi, bổ sung và chính xác hơn phương án kĩ thuật khảo sát đã được xét duyệt nhằm nâng cao chất lượng tài liệu và rút ngắn thời gian khảo sát nhưng phải được chủ đầu tư nhất trí.

Chỉ được lập dự toán chi phí khảo sát sau khi đã có phương án kĩ thuật khảo sát. Dựa vào nội dung và khối lượng các dạng công tác khảo sát ghi trong phương án kĩ thuật để tính toán chi phí khảo sát. Khi lập dự toán chi phí cho từng dạng công tác khảo sát thống nhất cho các đạng công tác khảo sát xây dựng, có tính đến hệ số điều chỉnh hợp lí. Riêng những dạng công tác không có quy định trong tập đơn giá thống nhất thì chi phí khảo sát được xác định bằng cách tính thực chi hoặc bằng cách tính tương tự.

Cũng như phương án kĩ thuật khảo sát, dự toán chi phí khảo sát phải được chủ đầu tư nhất trí.

Phương án kĩ thuật khảo sát và bằng dự toán chi phí khảo sát là hai tài liệu cơ bản dùng để kí kết hợp đồng khảo sát với chủ đầu tư

Hợp đồng khảo sát phải được kí kết theo đúng quy định hiện hành.

Cơ quan khảo sát không được phép thực hiện các dạng công tác khảo sát ngoài hiện trường khi thiếu một trong các văn bản sau : phương án kĩ thuật khảo sát hoặc nhiệm vụ kĩ thuật sản xuất (khi khối lượng công tác khảo sát ít), hợp đồng khảo sát, giấy phép cấp đất xây dựng, giấy phép khảo sát và dự toán chi phí khảo sát.

Trường hợp đặc biệt, khi có quyết định của Nhà nước về việc khảo sát thiết kế công trình gấp rút, có thể tiến hành khảo sát khi chưa có đầy đủ các văn bản trên.

Khi thực hiện các dạng công tác khảo sát phải áp dụng rộng rãi tiến bộ kĩ thuật (phương pháp khảo sát tiên tiến, thiết bị máy móc hiện đại) để đảm bảo nâng cao năng suất lao động và chất lượng tài liệu, rút ngắn thời gian khảo sát.

Trong quá trình thực hiện các dạng công tác khảo sát, cơ quan khảo sát phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định yêu cầu về bảo hộ lao động, kĩ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp.

Cơ quan khảo sát phải thỏa thuận với chủ đất, với cơ quan quản lý công trình công cộng và với cơ quan hữu quan khác về thời gian và vị trí tiến hành các dạng công tác khảo sát.

Cơ quan khảo sát cũng phải thông báo cho các cơ quan hữu quan về khả năng có thể làm ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của họ trong quá trình thực hiện các dạng công tác khảo sát và về những biện pháp nhằm đảm bảo cho công tác khảo sát được tiến hành bình thường và an toàn.

Trong quá trình công tác ngoài hiện trường, cơ quan khảo sát phải thực hiện đầy đủ toàn bộ khối lượng công tác đã được quy định trong phương án kĩ thuật khảo sát và thực hiện một phần công tác thí nghiệm trong phòng cũng như công tác chỉnh lí tài liệu đã thu thập được nhằm kiểm tra chất lượng, mức độ đầy đủ và độ chính xác của các dạng công tác ở ngoài hiện trường.

1.22. Cơ quan khảo sát có quyền chôn các cột mốc trắc địa, khoan đào các công trình thăm dò và tiến hành các dạng công tác phụ trợ khác (làm đường tạm thời, dọn mặt bằng thi công, phát quang đường ngắn v.v…) để đảm bảo thực hiện đầy đủ khối lượng công tác khảo sát đã quy định trong phương án kĩ thuật.

1.23. Trong quá trình công tác ngoài hiện trường cơ quan khảo sát phải sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường thiên nhiên xung quanh.

Cơ quan khảo sát chỉ được phép đốn và chặt cây rừng khi có giấy phép của cơ quan kiểm lâm nhân dân, do chủ đầu tư giao.

Trường hợp do tiến hành công tác khảo sát làm cho lớp đất trồng bị phá hủy thì cơ quan khảo sát có trách nhiệm đền bù hoặc cải tạo, phục hồi chất đất để có thể tiếp tục sử dụng lớp đất ấy.

Cơ quan khảo sát có trách nhiệm bảo vệ mạng lưới công trình kỹ thuật công cộng và các công trình xây dựng có ở trong vùng (địa điểm) khảo sát.

1.24. Trong quá trình thi công, cơ quan khảo sát phải thường xuyên tiến hành kiểm tra và nghiệm thu kết quả công việc đã thực hiện. Mỗi lần kiểm tra và nghiệm thu đều phải lập biên bản theo mẫu quy định, đánh giá mức độ đầy đủ về chất lượng các tài liệu đã thu thập được. Đối với lần kiểm tra và nghiệm thu cuối cùng (khi kết thúc công tác thi công ở ngoài hiện trường), còn phải đánh giá mức độ đầy đủ về chất lượng của tất cả các tài liệu đã thu thập được để có thể cho phép tiến hành công tác chỉnh lí tài liệu và lập báo cáo kĩ thuật

1.25. Chủ đầu tư (có thể mời cơ quan thiết kế), cơ quan cấp đất và cơ quan cấp giấy phép khảo sát có quyền kiểm tra việc thực hiện các loại công tác khảo sát ngoài hiện trường và chất lượng tài liệu đã thu thập được nhưng không được cản trở hoạt động sản xuất của cơ quan khảo sát. Trong quá trình kiểm tra cần tổ chức trao đổi thông tin giữa cơ quan khảo sát với cơ quan kiểm tra nhằm thúc đẩy công tác khảo sát tiến hành được nhanh, hợp lí, chính xác và rẻ hơn.

1.26. Trong thời gian làm việc ở trong phòng, cơ quan khảo sát phải kết thúc công tác thí nghiệm trong phòng, chỉnh lí tài liệu và lập báo cáo.

1.27. Toàn bộ tài liệu khảo sát của một công trình hay một giai đoạn khảo sát phải được tổng hợp thành báo cáo kĩ thuật (những kết luận), trong đó phải cung cấp số liệu cần thiết để lập thiết kế và dự toán cho giai đoạn thiết kế tương ứng; đồng thời phải đề xuất những kiến nghị về việc xử lí nền móng công trình xây dựng, về sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường xung quanh để các cơ quan có liên quan lưu ý khi thiết kế xây dựng và sử dụng nhà, công trình.

1.28. Nội dung và hình thức báo cáo kĩ thuật (kết luận) khảo sát phải đảm bảo yêu cầu của tiêu chuẩn này và các tiêu chuẩn, quy phạm khảo sát chuyên ngành tương ứng, đồng thời phải được kiểm tra, xét duyệt theo quy định hiện hành.

1.29. Báo cáo kĩ thuật (kết luận) khảo sát phải giao nộp cho chủ đầu tư theo đúng thời gian đã quy định trong hợp đồng khảo sát, đồng thời phải giao nộp cho cơ quan cấp giấy phép khảo sát và cho Cục lưu trữ kĩ thuật Trung ương theo đúng quy định hiện hành.

Tất cả tài liệu gốc dùng để lập báo cáo kĩ thuật (kết luận) khảo sát phải được lưu trữ cẩn thận theo quy định hiện hành.

Chú thích:

1) Theo yêu cầu của chủ đầu tư, báo cáo kĩ thuật (kết luận) khảo sát có thể được thành lập cho từng dạng công tác khảo sát, cho từng công trình xây dựng riêng biệt thay cho từng giai đoạn khảo sát nhất định, nhưng phải cóghi trong hợp đồng khảo sát.

2) Những tài liệu gốc hoặc tài liệu đã được chỉnh lí nhưng không đưa vào báo cáo kỹ thuật (kết luận) khảo sát thì không cần phải giao nộp cho chủ đầu tư.

1.30. Nếu giữa cơ quan khảo sát và chủ đầu tư có ý kiến bất đồng về các vấn đề kỹ thuật không giải quyết được thì phải yêu cầu hội đồng kỹ thuật chuyên ngành (thậm chí đến hội đồng trọng tài Trung ương) giải quyết những bất đồng ấy. Phía cơ quan sai phạm phải chịu mọi phí tổn trong quá trình xét xử và phải bồi thường thiệt hại do họ gây ra.

TCVN 4419:1987  KHẢO SÁT CHO XÂY DỰNG – NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TCVN 4419:1987 KHẢO SÁT CHO XÂY DỰNG – NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TCVN4419_1987_Khao-sat-cho-xay-dung-Nguyen-tac-co-ban.pdf
1.6 MiB
3545 Downloads
Details
Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng: