TCVN 4244:1986 TIÊU CHUẨN BẮT BUỘC ÁP DỤNG TOÀN PHẦN- QUY PHẠM KỸ THUẬT AN TOÀN THIẾT BỊ NÂNG


Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng:

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 4244:1986

Nhóm T

TIÊU CHUẨN BẮT BUỘC ÁP DỤNG TOÀN PHẦN- QUY PHẠM KỸ THUẬT AN TOÀN THIẾT BỊ NÂNG
Code for the safe technique for crane – equipment

  1. Quy định chung

1.1. Tiêu chuẩn này áp dụng cho những thiết bị nâng sau:

  1. a) Máy trục;

– Máy trục kiểu cần: Cần trục ôtô, cần trục bánh hơi, cần trục bánh xích, cần trục tháp, cần trục chân đế, cần trục đướng sắt, cần trục công xôn, cần trục máy xúc;

– Máy trục kiểu cầu: cầu trục, cổng trục, cầu bốc xếp;

– Máy trục cáp;

  1. b) Xe tời chạytheo ray lên cao;
  2. c) Palăng điện;
  3. d) Tời điện;
  4. e) Máy nâng xây dựng;
  5. f) Các loại bộ phận mang điện.

1.2 Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các thiết bị nâng sau:

  1. a) Các loại máy xúc;
  2. b) Các thiết bị nâng không dùng cáp hoặc xích;
  3. c) Xe nâng hàng;
  4. d) Thang máy;
  5. e) Các thiết bị nâng làm việc trên hệ nổi;

1.3. Trọng tải của thiết bị nâng là trọng lượng cho phép lớn nhất của tải (vật nâng) được tính toán theo điều kiện làm việc cụ thể.

Trọng tải bao gồm cả trọng lượng của gầu ngoạm, nam châm điện, ben. Thùng và

các bộ phận mang tải khác.

Đối với máy trục có tầm với thay đổi, trọng tải được quy định phụ thuộc vào tầm với.

  1. Yêu cầu kỹ thuật chung

2.1. Tất cả các thiết bị nâng và các bộ phận mang tải phải được chế tạo phù hợp với tiêu chuẩn và thiết kế đã được duyệt theo quy định ở điều 3.14

2.2. Những thiết bị nâng dẫn động điện phải được nối đất bảo vệ theo quy định quy phạm tạm thời về nối đất các thiết bị điện QPVN 13: 1978

2.3. Các nồi hơi của thiết bị nâng phải được quản lí và sử dụng theo quy định của quy phạm kĩ thuật an toàn các nồi hơi. QPVN 23: 1981

2.4. Các bình chịu áp lực của thiết bị nâng phải được quản lí và sử dụng theo quy định của “quy phạm kĩ thuật an toàn các bình chịu áp lực QPVN 2: 1975”

2.5. Tất cả các thiết bị nâng chỉ được phép làm việc sau khi đã đăng kí (đối với thiết bị nâng thuộc diện phải đăng kí) và được cấp giấy phép sử dụng theo thủ tục quy định trong tiêu chuẩn này.

2.6. Đối với những thiết bị nâng nhập của nước ngoài không phù hợp với tiêu chuẩn thì đơn vị quản lí sử dụng phải báo cáo với cơ quan đăng kí, cấp giấy phép sử dụng để xin ý kiến giải quyết.

2.7. Những thiết bị nâng làm việc ở môi trường dễ cháy, nổ trong thiết kế phải có biện pháp đảm bảo an toàn cho người và thiết bị. Trong hồ sơ kĩ thuật phải ghi rõ thiết bị nâng được phép sử dụng trong môi trường dễ cháy, nổ.

2.8. Những thiết bị nâng làm việc ở môi trường ăn mòn (axít, bazơ v.v…) trong thiết kế phải có các biện pháp chống tác dụng ăn mòn đối với thiết bị nâng.

2.9. Khi tính toán độ bền của các bộ phận và chi tiết của thiết bị nâng, phải tính chế độ làm việc theo phụ lục l của tiêu chuẩn này.

2.10. Vận tốc di chuyển của thiết bị nâng điều khiển từ mặt sàn không được vượt m/phút và của xe con không được vượt quá 32 m/phút.

2.11. Đối với những thiết bị nâng được chế tạo để phục vụ công việc lắp ráp và các việc khác đòi hỏi chính xác thì cơ cấu nâng và cơ cấu di chuyển phải có thêm vận tốc phù hợp.

2.12. Cần trục có tầm với thay đổi phải tính đến khả năng thay đổi tầm với có mang tải trong giới hạn của đặc tính tải.

2.13. Chỉ cho phép cơ cấu nâng tải và cơ cấu thay đổi tầm với của máy trục hạ tải hoặc hạ cần bằng động cơ trừ cần trục – máy xúc chuyên dùng gầu ngoạm và các máy trục sử dụng khớp nối thuỷ lực trong cơ cấu nâng tải và cơ cấu thay đồi tầm

2.14. Các cơ cấu của thiết bị nâng sử dụng lí hợp vấu, li hợp ma sát và các liên kết cơ khí khác để mở hoặc thay đổi vận tốc làm việc phải có khả năng loại trừ trường hợp tự mở và ngắt cơ cấu. Đối với tời nâng tải và nâng cán, ngoài yêu cầu trên còn phải loại trừ được khả năng ngắt cơ cấu khi chưa đóng phanh.

Không cho phép dùng li hợp ma sát và li hợp vấu để mở các cơ cấu nâng người, kim loại nóng chảy, xỉ, chất độc, chất nổ và không được dùng chúng ở các cơ cấu dẫn động điện trừ các trường hợp sau:

  1. Dùng để thay đổi vận tốc của cơ cấu di chuyển hoặc cơ cấu quay có nhiều vận tốc.
  2. Dùng điều khiển riêng các bánh xích của cơ cấu di chuyển cần trục bánh xích có dẫn động chung cho hai bánh xích

Trong các trường hợp nêu ở mục a và b của điều này phanh phải có liên kết động học cứng với phần quay của máy trục với các bánh xích hoặc bánh xe.

2.15. Các bộ phận của thiết bị nâng dùng để truyền momen xoắn phải dùng bulông, then và then hoa … chống xoay.

2.16. Các trục tâm cố định đùng đỡ tang, ròng rọc, bánh xe, con lăn và các chi tiết quay khác phải được cố định chặt để chống di chuyển.

2.17. Các cần trục có cần lồng hoặc tháp lồng phải có thiết bị định vị chắc chắc kết cấu lồng đó ở vị trí làm việc.

2.18. Các mối ghép bulông, then và chêm của thiết bị nâng phải được phòng chống tự tháo lỏng.

2.19. Ròng rọc và đĩa xích của thiết bị nâng phải có cấu tạo sao cho loại trừ được khả năng cáp hoặc xích trượt khỏi rãnh và không bị kẹt.

2.20. Khi dùng palăng kép nhất thiết phải đặt ròng rọc cân bằng.

2.21. Bánh xe kéo của thiết bị nâng dẫn động bằng tay, phải cố định trên trục và phải có dẫn hướng chống trật xích khỏi rãnh bánh xe kéo. Xích kéo phải có độ dài sao cho đầu củi của xích nằm ở độ cao 0,5m tính từ mặt sàn nơi công nhân điều khiển đứng làm việc.

2.22. Cơ cấu nâng máy trục phục vụ rèn phải có thiết bị giảm xóc.

2.23. Kết cấu kim loại và các chi tiết kim loại của thiết bị nâng phải được bảo vệ chống gỉ. Cần phải có biện pháp tránh mưa và đọng nước trên kết cấu hộp hoặc ống khi bị nâng ngoài trời.

2.24. Phải có lối đi an toàn đến cơ cấu, thiết bị an toàn , thiết bị điện mà yêu cầu phải bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên. phải có lối đi lại để kiểm tra cần và kết cấu kim loại. Khi không có cầu thang và sàn thao tác trên cần để bảo dưỡng ròng rọc và các chi tiết khác, cấu tạo của thiết bị nâng phải đảm bảo cho cần hạ được.

2.25. Cần trục ô tô, cần trục bánh hơi, cần trục bánh xích, cần trục đường sắt, cần trục rơ móc, cần trục tháp, cần trục chân đế, và cần trục máy xúc phải đảm bảo ổn định khi làm việc và khi không làm việc ổn định khi có tải và không có tải phải được kiểm tra bằng tính toán. Tính toán độ ổn định của cần trục phải tuân theo điều 2.26 của tiêu chuẩn này.

2.26. Khi tính ổn định của cần trục phải tuân theo các quy định sau: Xác định độ ổn định có tải và không tải phải tính toán với giả thiết rằng:

– Góc nghiêng của cần trục chân đế không nhỏ hơn 1.

– Góc nghiêng của cần trục khác(trừ cần trục đường sắt) không nhỏ hơn 30.

Đối với cần trục đường sắt không có chân chống phải tính toán đến độ lệch ray về chiều cao ở đoạn đường cong. Khi tính ổn định không tính đến tác dụng của kẹp ray.

Các cần trục có chân chống phụ thuộc hoặc thiết bị ổn định khác khi tính toán ổn định cũng không tính đến tác dụng của chúng.

Trọng lượng nhánh dưới của xích và cac chi tiết không có tác dụng giữ cần trục khỏi đổ khi tính toán độ ổn định cũng không tính đến.

Trong trường hợp bố trí nồi hơi, bình, thùng chứa nhiên liệu và nước ở vị trí làm giảm độ ổn định của cần trục thì lúc tính độ ổn định phải coi nước ở trong nồi hơi ở mức cao nhất và nhiên liệu điền vào thùng ở mức giới hạn.

Trong hướng dẫn lắp ráp, sử dụng cần trục phải quy định rõ hướng của cần số với phần không quay của cần trục và quy định lúc đó có phải hạ chân chống phụ hay không.

Hệ số ổn định có tải là tỉ số giữa mômen của trọng lượng các bộ phận của cần trục có tính đến tất cả các lực phụ (lực gió, lực quán tính khi mở và hãm cơ cấu nâng tải, cơ cấu quay và cơ cấu di chuyển và ảnh hưởng của góc nghiêng cho phép lớn nhất khi làm việc đối với cạnh lật và mômen tải đối với cạnh lật đó. Hệ số ổn định có tải không được nhỏ hơn l,15.

Trị số của hệ số ổn định có tải phải xác định khi hướng của cần vuông góc với cạnh lật và khi hướng của cần tạo với cạnh lật một góc 450, có tính đến lực quán tính tiếp tuyến xuất hiện khi phanh cơ cấu quay. Trị số đó tính theo công thức trong phụ lục 2

Trị số của hệ số ổn định có tải xác định khi không tính đến các lực phụ và không tính đến ảnh hưởng độ nghiêng của mặt nền thiết bị nâng đứng làm việc không nhỏ hơn l,4.

Độ ổn định không tải được xác định bằng tỉ số giữa mômen của trọng lượng và các bộ phận của cần trục có tính đến độ nghiêng của mặt nền về phía lật và và momen của lực gió đối với cùng cạnh lật.

Độ ổn định không tải được xác định khi cần trục ở vị trí bất lợi nhất đối với tác động của lực gió, theo công thức trong phụ lục 2. Đối với cần trục thay đổi tầm với bằng cơ cấu nâng hạ cần, hệ số ổn định không tải xác định khi cần ở vị trí làm việc thấp nhất* , còn đối với cần trục thay đổi tầm với không dùng cơ cấu nâng hạ cần hệ số ổn định không tải xác định khi cần trục ở tầm với nhỏ nhất dưới tác động lực gió trạng thái không làm việc.

2.27. Độ dốc đường ray của xe con của cần trục quy di động hoặc không di động và cần trục công xôn khi xe con có tải lớn nhất ở vị trí bất lợi nhất không vượt quá 0,003.

Tiêu chuẩn độ dốc này không áp dụng cho máy trục có cơ cấu di chuyển xe con được trang bị phanh tự động thường đóng hoặc xe con di chuyển bằng cáp.

2.28. Cải tạo thiết bị nâng (thay đổi dẫn động, thay móc bằng gầu ngoạm hoặc nam châm iện, tăng khẩu độ, tăng độ dài của cần, tăng độ cao nâng tải, gia cường để tăng trọng tải và các thay đổi trang bị khác gây sự tăng hoặc phân bổ lại lực lên các bộ hận và các chi tiết làm việc hoặc làm giảm độ ổn định. có tải hay độ ổn định không ải phải tiến hành theo thiết kế đã được duyệt như quy định trong tiêu chuẩn này.

Khi thiết kế cải tạo phải tính đến thực trạng của thiết bị nâng phải cải tạo (mức độ mòn, hư hỏng v.v…)

Nếu làm ngắn cần, tháp hoặc cẩu mà trong lí lịch hoặc thuyết minh sử dựng thiết bị nâng, nhà máy chế tạo không quy định có thể không phải tính toán thiết kế, nhưng phải có biện pháp đảm bảo chất lượng công việc tiến hành.

Chuyển máy xúc, máy đặt ống… sang máy trục chỉ được tiến hành khi có tính toán thiết kế và được cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn địa phương cho phép.

2.29. Đơn vị quản lí sử dụng thiết bị nâng khi lắp ráp, khám nghiệm kĩ thuật hoặc sử dụng, phát hiện có các sai sót về kết cấu và chế tạo kể cả những sự không phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn này có quyền khiếu nại nhà máy chế tạo. Đối với thiết bị nâng nhập của nước ngoài gửi đơn khiếu nại thông qua cơ quan nhập khẩu.

Bản sao đơn khiếu nại phải gửi cho cơ quan cấp giấy phép chế tạo thiết bị nâng đó và ửi cho cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn Nhà nước

Nhà máy chế tạo sau khi nhận được đơn khiếu nại phải khắc phục các sai sót đã được phát hiện. Nhà máy chế tạo phải thống kê các khiếu nại đó vào sổ theo dõi riêng, trong đó phải có những mục sau:

* Trong trường hợp này phải kiểm tra độ ổn định không tải cả khi cần ở vị trí làm việc cao nhất dưới tác động

của lực gió trạng thái làm việc.

-nay là ban thanh tra KTAT và BHLĐ Sở Lao Động

 -Nay là ban thanh tra KTAT và BHLĐ Bộ Lao Động

  1. Tên đơn vị khiếu nại;
  2. Tóm tắt nội dung khiếu nại;
  3. Số xuất xưởng của thiết bị nâng;
  4. Các biện pháp đã thực hiện;

2.30. Nhà máy chế tạo phải xét đến các sai sót về kết cấu và chế tạo của những thiết bị nâng đang sử dụng và phải thực hiện các biện pháp khắc phục chúng. Trong các trường hợp các sai sót được phát hiện có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng an toàn thiết bị nâng, máy chế tạo phải thông báo cho tất cả các đơn vị đang sử dụng loại thiết bị nâng đó biết và thực hiện các biện pháp cần thiết khắc phục các sai sót, đồng thời gửi tài liệu kĩ thuật, vật liệu, chi tiết và các bộ phận cần phải thay thế.

Thông báo của nhà máy chế tạo về sai sót của thiết bị nâng và biện pháp khắc phục gửi cho các đơn vị sử dụng phải đồng thời sao gửi cho cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn Nhà nước.

  1. Giấy phép chế tạo và sửa chữa

3.1. Các đơn vị chế tạo thiết bị nâng và các bộ phận mang tải đều phải có giấy phép chế tạo do cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn cấp theo đúng quy định trong tiêu chuẩn này.

3.2. Giấy phép chế tạo thiết bị nâng và các bộ phận mang tải chỉ cấp cho những đơn vị có đủ khả năng kĩ thuật chế tạo, có khả năng hàn và kiểm tra chất lượng mối hàn.

3.3. Giấy phép chế tạo máy trục trọng tải trên l T và chế tạo hàng loạt thiết bị nâng khác do cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn Nhà nước cấp.

Khi xin giấy phép chế tạo, đơn vị chế tạo phải nộp hồ sơ gồm những tài liệu sau:

  1. Đơn xin cấp giấy phép chế tạo thiết bị nâng.
  2. Quyết định của Bộ (cơ quan ngang Bộ) hoặc Sở giao nhiệm vụ chế tạo thiết kế

nâng cho đơn vị.

  1. Bản vẽ chung thiết bị nâng và những bộ phận cơ bản của nó đã được duyệt
  2. Điều kiện kĩ thuật chế tạo đã được duyệt. e. Chứng nhận có thợ hàn từ bậc 4 trở lên.
  3. Lí lịch.
  4. Hướng dẫn lắp ráp và sử dụng.
  5. Biên bản nghiệm thu mẫu thử (đối với trường hợp sản xuất hàng loạt).

3.4. Giấy phép chế tạo thiết bị nâng không quy định ở điều 3.3 do cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn địa phương cấp.

Khi xin giấy phép, đơn vị chế tạo phải nộp những tài liệu sau:

  1. Đơn xin cấp giấy phép chế tạo thiết bị nâng.
  2. Bản vẽ chung thiết bị nâng và các bộ phận cơ bản của nó. c. Điều kiện kĩ thuật chế tạo đã được duyệt.
  3. Chứng nhận có thợ hàn từ bậc 4 trở lên.

3.5. Giấy phép chế tạo các bộ phận và chi tiết quan trọng (kết cấu kim loại các bộ phận mang tải và phanh) và chế tạo hàng loạt các bộ phận chi tiết rêng biệt khác của thiết bị nâng do cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn địa phương cấp.

Khi xin cấp giấy phép đơn vị chế tạo phải nộp những tài liệu sau:

  1. Đơn xin cấp giấy phép chế tạo các bộ phận, chi tiết (phải ghi rõ tên các bộ phận và chi tiết).
  2. Bản vẽ chung của các bộ phận, bản vẽ của chi tiết;
  3. Điều kiện kĩ thuật đã được duyệt;
  4. Chứng nhận có thợ hàn bậc 4 trở lên, nếu chế tạo các bộ phận, chi tiết phải hàn;
  5. Biên bản nghiệm thu mẫu thử.

3.6.Trong quy định về điều kiện kĩ thuật chế tạo thiết bị nâng hoặc kết cấu kim loại ngoài các yêu cầu khác phải quy định.

– Yêu cầu về kiểm tra chất lượng mối hàn, các chỉ tiêu loại bỏ.

– Vật liệu dùng chế tạo và hàn.

– Quy trình nghiệm thu các bộ phận về sản phẩm hoàn chỉnh.

3.7. Trong hướng dẫn lắp ráp và vận hành thiết bị nâng cùng với các chỉ dẫn khác phải chỉ dẫn chu kì kiểm tra và tra dầu mỡ, chu kì về phương pháp kiểm tra kết cấu kim loại điều chỉnh phanh; độ mòn cho phép của các chi tiết quan trọng; các hỏng hóc cơ khí của kết cấu kim loại có thể có và biện pháp khắc phục chúng; chu kì kiểm tra thiết bị hạn chế trong quy định về an toàn trong việc bảo dưỡng và vận hành thiết bị nâng. Đối với thiết bị nâng có bộ phận mang tải là gầu ngoạm hoặc nam châm điện phải có quy định điều kiện sử dụng an toàn gầu ngoạm và nam châm điện.

Nếu khi lắp ráp thiết bị nâng phải sử dụng phương pháp hàn thì trong hướng dẫn phải quy định các biện pháp đảm bảo chất lượng hàn và phương pháp kiểm tra chất lượng mối hàn.

3.8. Thử nghiệm nghiệm thu thiết bi nâng chế tạo thử nhằm xác định sự phù hợp của mẫu với tiêu chuẩn và thiết kế; sự phù hợp của chất lượng chế tạo với các điều kiện kĩ thuật; xác định kết cấu của mẫu cho phép vận hành an toàn.

Việc thử nghiệm phải được tiến hành theo quy trình đã được cơ quan thiết kế lập.

Khi thử nghiệm các loại cần trục phải kiểm tra độ ổn định bằng cách nâng tải có trọng lượng bằng l,4 lần trọng tải và cần nằm ở vị trí mà cần trục có độ ổn định nhỏ nhất

Cần trục được coi là thử nghiệm đạt yêu cầu nếu khi nâng tải vượt 40% trọng tải thì lên độ cao l00 – 200 mm và giữ ở trạng thái treo trong 10 phút; trường hợp một điểm tựa của cần trục bị bênh lên không tính là cần trục mất ổn định.

Ngoài ra, phải kiểm tra thiết bị nâng khi thực hiện tất cả các thao tác với tải bằng 125% trọng tải. Kết quả thử nghiệm nghiệm thu phải được trình bày dưới dạng biên bản.

Để nhận được giấy phép chế tạo thiết bị nâng đã sản xuất trước khi ban hành tiêu chuẩn thì không nhất thiết phải thử nghiệm nghiệm thu lại. Trong trường hợp này đơn vị chế tạo chỉ cần nộp bản sao biên bản thử nghiệm nghiệm thu thiết bị nâng đã được chế tạo thử trước đây.

Việc thử nghiệm nghiệm thu thiết bị nâng chế tạo thử phải có sự tham gia của cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn Nhà nước.

3.9. Mỗi thiết bị nâng chế tạo xong phải được bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm của đơn vị chế tạo kiểm tra và xác định chất lượng.

Khi xuất xưởng mỗi thiết bị nâng phải có hồ sơ gốc kèm theo, trong hồ sơ gốc phải có các tài liệu sau:

– Lí lịch thiết bị;

– Hướng dẫn lắp ráp và vận hành an toàn.

3.10. Mỗi đơn vị chế tạo thiết bị nâng phải có số thống kê số thiết bị đã xuất xưởng. Mỗi thiết bị nâng khi xuất xưởng phải được gắn một biển kim loại trong đó có ghi tên đơn vị chế tạo, trọng tải, ngày xuất xưởng và số xuất xưởng.

3.11. Giấy phép sửa chữa và cải tạo kết cấu kim loại của thiết bị nâng có sử dụng phương pháp hàn do cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn địa phương cấp. Khi xin giấy phép đơn vị sửa chữa và cải tạo phải nộp những tài liệu sau:

  1. Đơn xin cấp giấy phép sửa chữa và cải tạo kết cấu kim loại của thiết bị nâng;
  2. Chứng nhận có thợ hàn từ bậc 4 trở lên.

3.12. Các đơn vị sửa chữa và cải tạo kết cấu kim loại của thiết bị nâng phải quy định các yêu cầu kĩ thuật, vật liệu chế tạo, vật liệu hàn, phương pháp kiểm tra mối hàn, các chỉ tiêu loại bỏ mối hàn, trình tự nghiệm thu chi tiết, sản phẩm và lớp hồ sơ.

3.13. Đơn vị sửa chữa và cải tạo thiết bị nâng phải ghi vào lí lịch đặc điểm công việc tiến hành, tư liệu về vật liệu sử dụng.

Trong những trường hợp cần thiết phải lớp lí lịch mới cho thiết bị nâng sau khi chữa à cải tạo.

3.14. Các thiết kế thiết bị nâng và các chi tiết, bộ phận riêng biệt của nó (kể cả thiết kế cải tạo và sửa chữa) phải được thủ trưởng đơn vị thiết kế duyệt trên cơ sở đối chiếu với các quy định trong tiêu chuẩn này.

3.15. Nội dung thiết kế thiết bị nâng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

  1. Phù hợp với các quy định trong tiêu chuẩn này và các quy phạm, tiêu chuẩn có liên quan khác.
  2. Có đầy đủ các thiết bị an toàn.

3.16. Cơ quan cấp giấy phép chế tạo thiết bị nâng có quyền thu lại giấy phép chế tạo khi ơn vị chế tạo xuất xưởng các thiết bị nâng không đảm bảo an toàn.

  1. Vật liệu, hàn và kiểm tra chất lượng mối hàn

4.1. Vật liệu dùng để chế tạo và sửa chữa kết cấu kim loại của thiết bị nâng và các chi tiết của các cơ cấu phải đảm bảo bền, dẻo, dễ hàn và làm việc an toàn ở những điều kiện ã quy định.

Trong điều kiện hiện nay cho phép chọn vật liệu theo các tiêu chuẩn của Liên Xô vàvật liệu của các nước khác có đặc tính tương đương.

4.2. Chất lượng, tính chất của vật liệu và bán thành phẩm phải được nhà máy sản xuất xác nhận bằng văn bản.

Khi không có các văn bản trên, đơn vị chế tạo, lắp ráp và sửa chữa thiết bị nâng phải tiến hành thử nghiệm trước khi sử dụng. Kết quả thử nghiệm phải thoả mãn những yêu cầu kĩ thuật đã quy định mới được sử dụng.

4.3. Cơ quan cung ứng vật tư phải giao đầy đủ chứng từ kĩ thuật của vật tư cho đơn vị tiếp nhận. Trong trườnghợp không có đủ chứng từ kĩ thuật gốc của nhà máy sản xuất cơ quan cung ứng vật tư phải sao và cấp cho đơn vị tiếp nhận bản sao chứng từ kĩ thuật gốc.

4.4. Hàn các bộ phận chịu lực của thiết bị nâng phải tiến hành theo các yêu cầu trong quy trình công nghệ hàn quy trình công nghệ hàn do đơn vị chế tạo, cải tạo hoặc sửa chữa thiết bị nâng

4.5. Vật liệu dùng để hàn kết cấu thép của thiết bị nâng phải đảm bảo, cơ tính của kim loại mối hàn và mối ghép hàn (giới hạn bền, giới hạn chảy, độ giãn dài tương đối, góc uốn cong, độ dai va đập) không thấp hơn giới hạn của các cơ tính của kim loại cơ sở. Yêu cầu này cũng áp dụng cho việc hàn lan can và thang treo.

Khi hàn các kim loại có mác khác nhau thì cơ tính củạ kim loại hàn phải tương ứng với cơ tính của kim loại có giới hạn bền lớn nhất.

4.6. Chỉ cho phép những thợ hàn có bằng hoặc giấy chứng nhận đã được đào tạo và sát hạch đạt yêu cầu, có tay nghề từ bậc 4 trở lên hàn những bộ phận cơ bản quan trọng của kết cấu kim loại, hàn ban công và thang trên thiết bị nâng.

4.7. Những mối đính khi gá lắp các bộ phận nói ở điều 4,6 phải do chính những thợ hàn sẽ hàn mối đó tiến hành. Hàn đính cũng phải dùng que hàn cùng loại như hàn chính thức.

4.8. Khi thiết kế kết cấu mối hàn, phải đảm bảo:

  1. Dễ hàn và dễ kiểm tra. Mối hàn giáp mối phải đảm bảo hàn được từ hai phía.
  2. Mối hàn góc của liên kết chữ T trong mặt cắt ngung cần có dạng lõm hoặc phẳng và bề mặt mối hàn chuyển dần sang kim loại cơ sở.
  3. Chiều cao lớn nhất của mối hàn góc không được vượt quá 0,7 S1 (S1 là chiều dày của phần tử mỏng nhất trong kết cấu) (xem hình 4.8.1a).
  4. Cho phép hàn góc ở hai phía của phần tử nếu chiều dày S của phần tử lớn hơn l,5 lần chiều cao của mối hàn a (xem hình 4.8. 1b), khi chiều dày của phần tử hàn nhỏ hơn chiều cao mối hàn thì các mối hàn phải cách nhau một khoảng L > 2S (xem hình 4.8.lc).
  5. Không cho phép vừa hàn vừa tán trong một chi tiết.

4.9. Các bản vẽ thi công phải có các chỉ dẫn liên quan đến các mối hép hàn và các chỉ dẫn về gia công cơ và nhiệt luyện. các mối hàn lắp ráp phải được đánh dấu đặc biệt.

4.10. Khi lắp ráp kết cấu bằng phương pháp hàn phải đảm bảo độ chính xác của mối ghép trong giới hạn của kích thước và dung sai đã quy định trong bản vẽ và trong hướng dẫn về công nghệ hàn.

4.11. Trước khi hàn phải làm sạch các mép mối hàn về bề mặt kim loại tiếp giáp chúng trên chiều rộng không nhỏ hơn 20mm.

4.12. Hàn kết cấu kim loại của thiết bị nâng phải tiến hành trong các nhà xưởng, loại trừ được ảnh hưởng xấu của các điều kiện khí quyển đến chất lượng mối ghép hàn.

Cho phép hàn ngoài trời khi có thiết bị bảo vệ khu vực hàn khỏi ảnh hưởng của mưa gió.

4.13. Trong quy trình công nghệ hàn phải chỉ rõ những mối hàn phải gia nhiệt trước khi hàn và nhiệt độ cần thiết phải duy trì trong suốt quá trình hàn.

4.14. Hàn đính dùng để gá lắp kết cấu có thể không phải tẩy nếu khi hàn chính thức chúng hoàn toàn nóng chảy.

4.15. Sau khi hàn các phần nhô ra phải tẩy đi, các mép của mối hàn phải được làm sạch

4.16. Những mối ghép hàn của các bộ phận chịu lực trong kết cấu thiết bị nâng cần nhiệt luyện phải được quy định trong các điều kiện kĩ thuật về chế tạo sửa chữa hoặc cải tạo thiết bị nâng.

4.17. Đơn vị chế tạo, sửa chữa, cải tạo lắp đặt thiết bị nâng có tiến hành công việc hàn phải tổ chức kiểm tra chất lượng mối ghép hàn. Khi kiểm tra chất lượng mối ghép hàn phải thực hiện:

  1. Kiểm tra, đo đạc bên ngoài.
  2. Dò khuyết tật bằng siêu âm hoặc chiếu các tia xuyên qua (rơn- ghen, gamma hoặc dùng phối hợp các phương pháp này).
  3. Thử cơ tính.

4.18. Đối với những mối ghép hàn phải nhiệt luyện, việc kiểm tra chất lượng phải tiến hành sau khi nhiệt luyện. Kết quả kiểm tra phải được ghi đầy đủ vào biên bản và có kết luận rõ ràng về chất lượng mối ghép hàn đó.

4.19. Kiểm tra đo đạc bên ngoài nhằm mục đích phát hiện các khuyết tật bên ngoài sau:

  1. Sự gẫy khúc hoặc không vuông góc của các đường tâm các phần tử hàn.
  2. Độ lệch giữa các mép của các phần tử hàn.
  3. Kích thước và hình dáng mối hàn không đúng như bản vẽ (chiều cao, chiều rộng của mối hàn v.v…).
  4. Vết nứt ở bề mặt mối hàn và ở phần kim loại cơ sở.
  5. Bướu, cắt lẹm, cháy thủng, mặt hàn không kín, hàn không ngấu, có lỗ xốp và những khuyết tật công nghệ khác.

4.20. Trước khi kiểm tra đo đạc bên ngoài bề mặt mối hàn và phần kim lọai cơ sở tiếp giáp phải được tẩy sạch xỉ hàn và các vết bẩn khác trên một bề mặt rộng không nhỏ hơn 20mm về cả hai phía của mối hàn.

4.21. Việc kiểm tra đo đạc bên ngoài mối ghép hàn phải được tiến hành ở cả hai phía trên toàn bộ mối ghép theo đúng các yêu cầu đã quy định trong bản thiết kế và trong những quy định trong điều 4.19 của tiêu chuẩn này.

Trường hợp không có khả năng kiểm tra đo đạc được mặt trong của mối hàn, cho phép chỉ kiểm tra đo đạc mặt ngoài.

4.22. Kiểm tra bằng phương pháp siêu âm và chiếu tia xuyên qua được tiến hành nhằm mục đích phát hiện các khuyết tật bên trong của mối hàn mà mắt thường không thể nhìn thấy được như bọt khí, ngậm xỉ v.v…

Phải chiếu tia xuyên qua trên chiều dài không nhỏ hơn 25% chiều dài của mối hàn được kiểm tra. Các chỗ chiếu tia sáng qua phải do đơn vị chế tạo, lắp ráp, cải tạo, hoặc sửa chữa quy định.

4.23 Trước khi dò siêu âm hoặc chiếu tia xuyên qua các mối hàn phải được đánh dấu để có thể phân biệt một cách dễ dàng trên sơ đồ kiểm tra mối hàn và trên phim ảnh.

4.24. Việc đánh giá chất lượng mối hàn phải theo kết quả kiểm tra đo đạc bên ngoài và chiếu các tia xuyên qua trên cơ sở so sánh với yêu cầu, điều kiện kỹ thuật về chế tạo, sửa chữa, cải tạo các thiết bị nâng.

4.25. Trong các mối ghép hàn không cho phép các khuyết tật sau:

  1. a) Vết nứt ở mối hàn và kim loại cơ sở cạnh mối hàn;
  2. b) Hàn không ngấu trên bề mặt và theo mặt cắt của mối hàn ( giữa các lớp hàn, giữa kim loại cơ sở và kim loại hàn);
  3. c) Hàn không thấu ở miệng (chân) của các mối hàn góc và chữ T khi không sửa mép;
  4. d) Rò khí dưới dạng lưới dày đặc;
  5. e) đ) Bị lẹm, bướu;
  6. f) Hàn không kín miệng;
  7. g) Rỗ tổ ong;
  8. h) Cháy kim lọai mối hàn;
  9. i) Cháy và chảy kim loại cơ sở(khi hàn tiếp giáp các ống);
  10. j) Xê dịch các mép qua quy định trong bảng vẽ;

4.26. Khi phát hiện thấy có khuyết tật không cho phép ở các mối hàn được kiểm tra bằng cách chiếu tia xuyên qua thì phải tiến hành mới toàn bộ mối hàn. các đoạn khuyết tật của mối hàn được phát hiện khi kiểm tra cần phải cắt và hàn lại.

4.27. Có thể thay phương pháp chiếu tia xuyên qua bằng các phương pháp kiểm tra khác nếu được cơ quan ban hành tiêu chuẩn thỏa thuận bằng văn bản.

4.28. Việc thử cơ tính các mối hàn nhằm mục đích kiểm tra sự phù hợp độ bền, độ dẻo với quy định của tiêu chuẩn này về các yêu cầu kĩ thuật chế tạo.

4.29. Những thợ hàn tham gia vào việc hàn kết cấu kim loại hàn ít nhất hai mẫu thử đối với từng dạng thử cơ tính(kéo, uốn). Mối hàn thử phải được hàn trong các điều kiện hoàn toàn giống các điều kiện khi hàn sản phẩm.

4.30. Thử cơ tính mối hàn ở các mẫu kiểm tra phải tiến hành bằng cách tử kéo và uốn không phụ thuộc vào lọai mối hàn. ở mẫu thử uốn mối hàn phải nằm cắt ngang mẫu thử.

Kết quả thử nghiệm đạt yêu cầu sau thì mối hàn được coi là đạt:

  1. a) Sức bền của mối hàn không thấp hơn giới hạn dưới của sức bền kim loại cơ sở;
  2. b) Góc gập không nhỏ hơn 100;

4.31. Chất lượng của mối hàn được coi là không đạt yêu cầu nếu khi kiểm tra bằng bất kỳ phương pháp nào cũng phát hiện được khuyết tật bên trong hoặc bên ngoài vượt quá giới hạn mà tiêu chuẩn hoặc điều kiện kĩ thuật đã quy định.

5 .Cấu tạo và lắp đặt

5.1. Bộ phận mang tải.

5.1.1 Móc và vòng phải được cấu tạo bằng phương pháp rèn hoặc dập. Cho phép chế tạo móc từ những tấm thép riêng biệt được liên kết với nhau bằng đinh tán. cho phép chế tạo móc bàng phương pháp đúc nếu đơn vị chế tạo có khả năng dò khuyết tật vật đúc và được cơ quan thanh tra kĩ thuật an toàn địa phương cho phép.

5.1.2 Móc chịu tải từ 30.000 N trở lên phải có cấu tạo quay được trên ổ bi chặn được che kín, trừ các móc của thiết bị nâng chuyên dùng.

5.1.3 Lắp các móc rèn, dập, chạc của móc tấm lên thanh ngang phải loại trừ khả năng tự tháo lỏng của đai ốc.

5.1.4 Móc treo tải của thiết bị nâng phải được trang bị khóa an toàn loại trừ khả năng tự rơi cuả các bộ phận mang tải bổ sung, trừ móc của các thiết bị nâng sau:

  1. a) Cần trục chân đế làm việc ở cảng biển;
  2. b) Máy trục dùng để di chuyển kim loại nóng chảy hoặc xi lỏng.

Cho phép sử dụng móc không có khóa an toàn với điều kiện phải dùng các bộ phận mang tải mềm bổ sung, loại trừ được khả năng tuột ra khỏi móc.

5.1.5 Trên các móc treo tải chế tạo bằng phương pháp rèn hoặc dập phải ghi trọng tải của nó.

Đối với móc tấm phải ghi trọng tải trên cả chạc của móc.

5.1.6 Gàu ngoạm phải có cấu tạo sao cho loại trừ khả năng tự mở.

5.1.7 Gàu ngoạm phải gắn biển ghi nhà máy chế tạo, số xuất xưởng, trọng lượng bản thân, trọng tải và loại tải. Khi không có biển của nhà máy chế tạo, đơn vị sử dụng phải làm biển đó.

Các gàu ngoạm được chế tạo riêng biệt phải có thêm lý lịch ghi đầy đủ các số liệu kĩ thuật mà trong phụ lục 5 đã quy định

5.1.8 Trên bộ phận mang tải bổ sung phải có biển ghi số xuất xưởng, trọng tải và ngày thử. Trọng tải của dây buộc thông dụng được xác định khi góc giữa các nhánh bằng 900.

Đối với những dây dùng để mang một tải nhất định thì trọng tải được xác định theo góc tính toán giữa các nhánh.

Nếu bộ phận mang tải bổ sung được sản xuất để cung cấp cho các đơn vị khác ngoài các quy định ở trên phải có thêm hồ sơ kĩ thuật.

5.1.9 Trên các bao bì trừ những bao bì đặc biệt (bao bì đựng dung dịch…) phải có biển ghi số xuất xưởng, trọng lượng bản thân, trọng tải và công dụng.

Dung tích của bao bì phải loại trừ khả năng quá tải của thiết bị nâng.

5.1.10 Không được sử dụng móc như móc không quay được, móc bị roãng, lỏng móc bị mòn quá 10% so với kích thước ban đầu, móc có vết rạn nứt.

5.1.11 Không được dùng thùng bị hỏng quai hoặc thành thùng bị nát, mối hàn bị nứt.

5.2. Cáp

5.2.1 Các cáp thép dùng để nâng tải, nâng cần, nâng cột, cáp ray, cáp kéo và cáp buộc phải có chứng từ kĩ thuật hoặc bản sao của nhà máy chế tạo. Khi không có chứng từ kĩ thuật phải thử nghiệm đề lớp chứng từ kĩ thuật mới.

Cấm sử dụng cáp khi không có chứng từ kĩ thuật.

5.2.2 Khi cố định và bố trí cáp trên thiết bị nâng phải loại trừ khả năng cáp rơi khỏi tang, ròng rọc hoặc cáp cọ xát vào kết cấu kim loại hoặc cọ xát vào cáp của các palăng khác.

5.2.3 Vòng ở đầu cáp dùng để cố định cáp lên thiết bị nâng hoặc vòng của cáp buộc tải dùng để treo vào móc hoặc các chi tiết khác phải được tạo thành bằng cách bện hoặc dùng khoá cáp.

5.2.4 Cho phép cố định đầu cáp vào thiết bị nâng bằng cách nêm hoặc đổ hợp kim nóng chảy vào trong vỏ thép rèn, dập hoặc đúc.

Cấm dùng nêm và vỏ côn bằng gang và vỏ côn hàn.

Vỏ côn và nêm không được có cạnh sắc làm hỏng cáp.

5.2.5 Cố định cáp bằng cách bện thì số lần bao cáp luồn qua khi bện phải lớn hơn hay bằng số liệu ghi trong bảng 5.2.5. Lần đan của cùng của các tao chỉ cần đan nửa số sợi của tao. Cho phép đan nửa số tao ở lần đan của cùng.

Bảng 5.2.5. – Số lần tao cáp luồn qua khi bện

Đường kính cáp, mm Số lần mỗi tao phải đan không được nhỏ hơn
Đến 15

Từ 15 đến 28

Từ 28 đến 60

4

5

6

 

5.2.6 Số lượng khoá cáp phải được xác định khi thiết kế nhưng không được ít hơn 3.

Khoảng cách giữa các khoá cáp và khoảng cách từ đầu cáp đến khoá cáp gần nhất không được nhỏ hơn 6 lần đường kính cáp.

5.2.7 Cố định cáp lên tang phải đảm bảo chắc chắn và dễ thay thế. Số lượng tấm kẹp dùng để kẹp đầu cáp lên tang không được ít hơn 2.

Chiều dài tự do còn lại của cáp tính từ tấm kẹp gần nhất trên tang không được nhỏ hơn hai lần đường kính cáp. Không được cuộn đầu cáp tự do thành vòng ở phía dưới hoặc xung quanh tấm kẹp.

5.2.8 Cáp dùng để mang kim loại đốt nóng và kim loại nóng chảy hoặc xỉ lỏng phải có thiết bị che chắn chống tác dụng trực tiếp của bức xạ nhiệt và kim loại lỏng bắn vào.

5.2.9 Các cáp thép dùng để mang tải, nâng cần, giữ cột, cáp kéo phải được tính như thiết kế và trước khi lắp vào thiết bị nâng.

Phải tính cáp theo công thức sau:

Trong đó:

P – lực kéo đứt cáp (N hoặc KG);

S – lực kéo lớn nhất tác dụng lên cáp (N hoặc KG);

K – hệ số dự trữ bền của dây, phụ thuộc vào công dụng và chế độ làm việc của thiết bị nâng. Hệ số K lấy theo bảng 5.2.9.

Bảng 5.2.9 – Hệ số dự trữ bền nhỏ nhất của cáp

Số thứ tự Công dụng của cáp Dạng dẫn động và chế độ làm việc Hệ số dự trữ
1 2 3 4
1

 

 

 

 

 

2

3

 

 

4

 

 

5

 

 

6

7

8

9

10

Nâng cần và nâng tải

 

 

 

 

 

Giằng cần

Gầu ngoạm

 

 

Giữ cột của

– Thiết bị nâng hoạt động thường xuyên

– Thiết bị nâng hoạt động dưới 1năm

Cáp ray của máy treo

– Hoạt động thường xuyên

– Hoạt động 1 năm

Cáp kéo xe

Cáp nâng người

Cáp dùng để lắp ráp thiết bị nâng

Cáp neo cho cáp ray của máy trục cáp

Cáp nâng hạ cần ngoài tấm với làm việc

–           Tay

–           Máy: Nhẹ

Trung bình

Nặng và rất nặng

 

 

 

– Có hai động cơ riêng biệt

– Có một động cơ

– Có một cáp và một động cơ

4

5

5,5

3,5

3,5

6

 

 

5

5

3,5

 

 

 

3,5

3,0

4

9

4

6

3,5

 

5.2.10 Tính toán dây mang tải làm bằng cáp thép phải được tiến hành theo công thức quy định trong điều 5.2.9 có tính đến số nhánh dây và góc nghiêng của dây so với phương thẳng đứng theo phụ luc 3.

Khi tính toán dây mang tải thông dụng phải lấy góc giữa các nhánh bằng 900. Đối với dây dùng đề mang một tải nhất định lúc tính toán lấy góc giữa các nhánh bằng góc thực tế.

Cáp dùng để buộc hoặc móc tải hệ số dự trữ bền không được nhỏ hơn 6.

Dây buộc, móc tải có nhiều nhánh phải đảm bảo cho các nhánh chịu lực như nhau.

5.2.11 Cáp thép phải loại bỏ theo quy định ở phụ lục 4 củạ tiêu chuẩn này.

5.2.12 Dây sợi gai và sợi bông chỉ cho phép dùng để buộc tải và đan lưới để nâng những tải có kích thước không lớn hoặc dùng để làm dây nâng tải ở những thiết bị nâng dẫn động bằng tay.

5.2.13 Tính toán dây buộc, móc tải bằng dây sợi gai hoặc sợi bông cũng tiến hành theo công thức quy định ở điều 5.2.9 và lấy hệ số dự trữ bền không được nhỏ hơn 8.

5.2.14 Cho phép dùng dây sợi tổng hợp để làm dây buộc tải. Việc tính toán chế tạo, thử nghiệm và loại bỏ loạiđây này phải quy định ở điều kiện kĩ thuật.

5.3. Xích

5.3.1 Cho phép dùng xích tấm, xích hàn và xích dập làm dây nâng và dây buộc tải.

5.3.2 Xích dùng cho thiết bị nâng phải có chứng từ kĩ thuật, nếu không có phải thử nghiệm trước khi đưa vào sử dụng.

5.3.3 Khi tính toán hoặc chọn xích phải kiểm tra xích theo công thức quy định ở điều

5.2.9. Hệ so dự trữ bền của xích tấm không được nhỏ hơn chỉ dẫn động bằng máy và không nhỏ hơn 3 khi dẫn động bằng tay. Hệ số dự trữ bền của xíh hàn và xích dập không được nhỏ hơn giá trị trong bảng 5.3.3.

 

Bảng 5.3.3 – Hệ số dự trữ bền của xích hàn và xích dập

Số thứ tự Công dụng của xích K
Khi dẫn động bằng tay Khi dẫn động bằng máy
1 2 3 4
1

 

 

2

Xích nâng tải

Trên tang trơn

Trên đĩa xích chính xác

Xích mang tải

 

3

3

5

 

6

8

5

 

5.3.4 Cho phép nối xích bằng cách rèn hoặc hàn điện các mắt xích mới hoặc dùng các mắt xích chuyên dùng. Sau khi nối xích phải tiến hành khám nghiệm theo quy định ở điều 6.3.27.

5.4. Tang, ròng rọc và đĩa xích

5.4.1 Đường kính của tang, ròng rọc cuộn cáp được xác định theo công thức sau:

D ≥ d(c – 1)

Trong đó:

D – đường kính tang, ròng rọc xác định theo đáy rãnh;

d – đường kính cáp;

c – hệ số phụ thuộc vào loại thiết bị nâng và chế độ làm việc của chúng, xác định theo Bảng 5.4. l.

Cho phép:

– Đường kính tang nhỏ hơn giá trị xác định theo công thức trên đến 15%. – đường

kính ròng rọc cân bằng hoặc ròng rọc đôi hướng nhỏ hơn giá trị xác định công thức trên đến 20%.

– Đường kính tang của palăng điện và cần trục nhỏ hơn giá trị xác định theo công thức trên đến 40%.

Bảng 5.4.1 – Giá trị cho phép nhỏ nhất của hệ số C

Số thứ tự Thiết bị nâng Dạng dẫn động Chế độ làm việc Hệ số C
1 2 3 4 5
1

 

 

 

 

 

 

 

 

2

 

 

 

 

 

 
3

4

 

 

5

6

Thiết bị nâng các loại trừ cần trục palăng và điện tời

 

 

 

 

 

 

 

Cần trục

Cơ cấu nâng tải và nâng cần

 

 

Cơ cấu lắp máy trục

 

 

 

 

 

Palăng điện

Tời gàu ngoạm

–           Của cần trục

–           Của thiết bị nâng ở mục 1

Ròng rọc gầu ngoạm

Tời để nâng:

– Tải

– Người

– Tay

– Máy

 

– Trung bình

 

 

 

 

 

 

– Tay

– Máy

 

 

 

 

– Tay

– Máy

 

 

– Tay

– Máy

– Tay

– Máy

 

 

– Nhẹ

– Trung bình

– Nặng

– Rất nặng

 

 

 

 

 

– Trung bình

– Nặng

– Rất nặng

 

 


 

 

18

20

 

25

30

35

 

 

16

16

 

18

20

25

 

 

16

16

 

 

20

30

 

18

12

20

16

25

 

5.4.2 Đường kính của tang, ròng rọc cuộn xích hàn phải đảm bảo:

  1. Không nhỏ hơn 20 lần đường kính thép làm mắt xích khi dẫn động bằng tay.
  2. Không nhỏ hơn 30 lần đường kính thép làm mắt xích khi dẫn động bằng máy.

5.4.3 Khi làm việc phải có ít nhất hai mắt xích ăn khớp với hai răng của đĩa xích.

5.4.4 Khả năng chứa cáp của tang phải đảm bảo sao cho khi bộ phận mang tải ở vị trí thấp nhất theo tính toán trên tang vẫn còn lại ít nhất là l,5 vòng cáp hoặc xích (không tính những vòng nằm dưới tấm kẹp).

5.4.5 Khi cuộn một lớp cáp phải dùng tang để cắt rãnh.

5.4.6 Tang trơn và tang cắt rãnh dùng để cuộn nhiều lớp cáp phải có thành ở hai bên.

Thành phải cao hơn lớp cáp hoặc xích trên cùng một khoảng không nhỏ hơn hai lần đường kính cáp hoặc một lần chiều rộng mắt xích.

5.4.7 Đối với thiết bị nâng dùng gầu ngoạm có tang cuộn một lớp cáp và các thiết bị nâng chuyển dùng khi làm việc có khả năng cáp bị giật cục hoặc lỏng thì tang phải có rãnh sâu không nhỏ hơn 0,5 đường kính cáp hoặc phải có thiết bị xếp cáp.

5.4.8 Đối với thiết bị nâng dẫn động bằng máy có tang cuộn nhiều lớp phải đảm bảo các lớp cáp xếp đúng.

5.4.9 Ròng rọc của palãng nâng cần và ròng rọc của palăng nâng tải (khi cần thiết) ở những vị trí cáp có thể trượt ra khỏi rãnh phải có thiết bị chống trượt cáp

5.5. Phanh

5.5.1 Các cơ cấu nâng tải của thiết bị nâng dẫn động bằng máy ( trừ các trường hợp ở điều

5.5.4) và cơ cấu thay đổi tầm với phải được trang bị phanh thường đóng tự động, mở khi mở dẫn động.

5.5.2 Cơ cấu nâng tải dẫn động bằng tay phải được trang bị phanh tự động (hoạt động dưới tác dụng của tải).

5.5.3 Cơ cấu nâng tải hoặc nâng cần bằng xilanh khí nén hoặc thuỷ lực phải có van một chiều chống hiện tợng tự hạ tải hoặc hạ cần khi áp suất trong hệ thông khí nén và thuỷ lực bị giảm.

5.5.4 Cơ cấu nâng tải hoặc nâng cần có li hợp dùng để đóng mở cơ cấu phải sử dụng phanh điều khiển thường đóng liên động với li hợp nhằm mục đích loại trừ khả năng tự hạ tải hoặc cần.

5.5.5 Không được phép sử dụng phanh thường đóng không điều khiển ở cơ cấu nâng tải và nâng cần, trù trường hợp phanh đó được dùng làm phanh phụ trong trường hợp này khi tính toán chỉ tính phanh chính.

5.5.6 Đối với gầu ngoạm có 2 tang dẫn động điện riêng mỗi dẫn động phải có một phanh. ở dẫn động và tang giữ gầu ngoạm cho phép sử dụng phanh điều khiển bằng bàn đạp hoặc nút bấm. Khi thiết bị bảo vệ điện làm việc hoặc ngắt dòng vào mạch thì phanh phải tự động đóng ngay cả khi bàn đạp đang ở trạng thái làm việc.

5.5.7 Đối với cơ cấu nâng tải và nâng cần dùng khớp nối cứng để liên kết giữa tang động cơ cho phép đúng nửa khớp nối phía bện hộp giảm tốc làm bánh phanh. Đối với các cơ cấu sử dụng li hợp bánh phanh phải được cố định trực tiếp trên tang hoặc trên trục có liên kết động học cứng với tang.

5.5.8 Phanh của cơ cấu nâng tải (trừ các trường hợp nêu ở điều 5.5.11 của tiêu chuẩn này) phải có mômen phanh với hệ số dự trữ không nhỏ hơn giá trị trong bảng 5.5.8 phụ thuộc vào chế độ làm việc và dạng dẫn động.

Hệ số dự trữ phanh là tl số giữa mômen phanh với mômen tĩnh do tải làm việc lớn nhất gây ra trên trục phanh.

Bảng 5. 5.8

Loại dẫn động của cơ cấu Chế độ làm việc Hệ số dự trữ phanh
Tay

Máy

Nhẹ Nhẹ

Trung bình

Nồng

Rất nồng

1,5

1,5

1,75

2,00

2,50

 

5.5.9 Cơ cấu nâng của máy trục luyện kim chuyên dùng để vận chuyển kim loại nóng chảy phải được trang bị hai phanh hoạt động độc lớp với nhau.

Cơ cấu nâng của máy trục luyện kim dùng để vận chuyển kim loại nóng chảy phải được trang bị hai phanh.

5.5.10 Khi có hai phanh thì một phanh phải đặt theo quy định ở điều 5.5.7 còn phanh thứ hai đặt trên trục động cơ điện hoặc trên một trục khác của cơ cấu.

Các phanh phải đặt sao cho khi kiểm tra độ tin cậy của một trong hai phanh thì dễ dàng làm mất tác dụng của phanh kia.

5.5.11 Khi dẫn động có hai phanh hoặc nhiều phanh, hệ số dự trữ phanh của mỗi phanh không được nhỏ hơn l,25.

Đối với cơ cấu nâng có hai dẫn động mỗi dẫn động phải lắp ít nhất một phanh với hệ số dự trữ phanh không nhỏ hơn l,25. Trong trường hợp cơ cấu có hai hoặc nhiều dẫn động được trang bị hai phanh hệ số dự trữ của mỗi phanh không được nhỏ hơn l,l.

Khi dẫn động có từ hai phanh trở lên thì hệ số dự trữ phanh được xác định với gỉả thiết rằng toàn bộ tải được giữ bằng một phanh.

5.5.12 Đối với cơ cấu nâng có hai dẫn động thì các dẫn động phải được liên kết động học cứng với nhau loại trừ khả năng tải tự rơi khi một trong hai dẫn động bị hỏng.

5.5.13 Có thể dùng phanh tự động (hoạt động dưới tác dụng của tải) để làm phanh thứ hai cho palăng điện. Trong trường hợp này hệ số dự trữ phanh của phanh điện không được nhỏ hơn l,25, còn phanh tự động không được nhỏ hơn l,l.

Đối với cơ cấu nâng dẫn động bằng tay thì một trong các phanh có thể thay bằng truyền động tự hãm. Đối với thiết bị nâng có dẫn động thuỷ lực thì van một chiều được coi là phanh thứ hai.

5.5.14 Hệ số dự trữ phanh của cơ cấu thay đổi tầm với không được nhỏ hơn l,5. Lúc đó mômen tĩnh trên trục phanh do trọng lượng của cần, của đối trọng, tải làm việc lớn nhất và gịó gây ra khi thiết bị nâng ô trạng thái làm việc phải xác định khi cần nằm ở vị trí mà mômen có giá trị lớn nhất.

Để giảm tải trọng động lên cơ cấu nâng cần cho phép đặt hai phanh. Trong trường hợp này hệ số dự trữ phanh của một phanh không được nhỏ hơn l,l, còn của phanh còn lại không được nhỏ hơn l,25 và các phanh phải làm việc tự động.

5.5.15 Phải đặt phanh cho cơ cấu di chuyển trong các trường hợp sau:

  1. Thiết bị nâng làm việc ngoài trời.
  2. Thiết bị nâng làm việc trong nhà di chuyển theo đường ray đặt trên mặt đất.
  3. Thiết bị nâng di chuyển theo đường ray đặt trên cao với vận tốc di chuyển không lớn hơn 32 m/phút.

5.5.16 Những cơ cấu quay dẫn động bằng máy phải được trang bị phanh.

5.5.17 Cơ cấu di chuyển của các cần trục ôtô, cần trục bánh hơi phải được trang bị phanh thường mở có điều khiển. Trong trường hợp này phải có thiết bị định vị phanh ở vị trí đóng. Thiết bị này có thể được đạt ở trên tay gạt hoặc bàn đạp điều khiển phanh.

Đối với cơ cấu quay và cơ cấu di chuyển của các thiết bị nâng khác phải dùng phanh thường đóng tự động mở khi dẫn động làm việc.

5.5.18 Đối với cơ cấu di chuyển của những thiết bị nâng làm việc ngoài trời phanh giữ được thiết bị khi lực gió cho phép lớn nhất tác dụng.

Phanh của cơ cấu quay phải đúng phần quay của thiết bị nâng trong quãng đường phanh cho phép của đầu cần khi gió tác động theo hướng quay và góc nghiêng cho phép trong trạng thái làm việc, đồng thời phải đảm bảo phanh từ từ khi không có gió.

5.5.19 Không được dùng truyền động trục vít để thay phanh ở các cơ cấu của thiết bị nâng có dẫn động bằng máy.

5.5.20 Không được để nước hoặc dầu, mỡ dây lên bánh phanh.

Tiêu chuẩn có ích? Vui lòng chia sẻ cho cộng đồng: